Từ vựng Đá quý: Từ A đến G

 

Andradite

Khoáng vật silicate-canxi-sắt thuộc nhóm garnet, nó có độ tán sắc rất cao. Loại đá quý quan trọng nhất thuộc nhóm phụ andradite này là garnet demantoid.

Bằng GG (chuyên viên đá quý)

Một người có bằng chuyên viên đá quý (GG) của Viện Ngọc Học Hoa Kỳ (GIA) là đã hoàn tất một chương trình đào tạo nghiêm ngặt theo dạng chứng chỉ của GIA. Chương trình này giúp cho các nhà kim hoàn, nhà ngọc học xác định và phân cấp được nhiều loại kim cương và đá màu. Chuyên viên đá quý GIA thường trở thành thương gia, người định giá và chuyên gia trong ngành kỹ nghệ đá quý và kim hoàn.

Bao thể

Bao thể là các tạp chất nằm bên trong viên đá quý, thí dụ đá quý chứa một dạng vân tay chứa chất lỏng, một số tinh thể rắn… Dù người ta đánh giá về mức độ chứa bao thể (gọi là độ sạch) của kim cương dưới phóng đại 10 lần, còn ở đá màu, người ta chỉ dùng mắt thường để đánh giá, với mỗi loại đá tiêu chuẩn độ sạch có thể khác nhau. Thí dụ, với emerald và tourmaline đỏ là hai loại đá hay chứa nhiều bao thể, nhưng chúng ít ảnh hưởng đến giá trị so với những đá khác.

Bao thể ba pha

Là một bao thể nằm bên trong viên đá quý chứa chất rắn, chất lỏng và khí. Thông thường nhìn bao thể giống như một cái túi chứa chất lỏng với một bọt khí và một tinh thể, hai thành phần sau có thể di chuyển qua lại trong chất lỏng.

Beryl

Là khoáng vật silicat chứa nhôm và berylium. Các loại đá quý từ nhóm beryl gồm emerald, aquamarine, morganite, beryl đỏ, và heliodor còn gọi là beryl vàng.

 

Cải thiện bằng nhiệt

Nhiều đá quý được tăng vẻ đẹp (màu đẹp hơn, độ trong cao hơn…) là nhờ được nung ở nhiệt độ cao giúp thay đổi hóa trị của các nguyên tố tạo màu. Một số đá quý, đáng kể nhất là corundum (ruby và saphia) được nung ở nhiệt độ rất cao (gần 1.900oC) để cải  thiện vẻ đẹp. Những đá quý khác, như aquamarine được nung ở nhiệt độ khá thấp để khử màu vàng. Kết quả của xử lý nhiệt là ổn định và bền vững dưới các điều kiện bình thường.

Carat

Là đơn vị đo trọng lượng đá quý. Một carat bằng 0,20 gram; một gram bằng 5 carat. Đơn vị carat được đưa ra năm 1907 và sức nặng của nó dựa vào trọng lượng hạt cây carob. Carat được ký hiệu là ct hay cts. Nên nhớ số carat là một số đo về trọng lượng, chứ không phải kích thước hay hàm lượng. Số carat tỷ lệ thuận với tỷ trọng của đá. Hai viên đá cùng thể tích, viên nào có tỷ trọng lớn hơn thì sẽ có số carat lớn hơn.

Cắt mài

Cắt mài liên quan đến tên của kiểu cắt mài mà viên đá quý được tạo ra (như hình hạt dưa, emerald …, cùng với kiểu mài giác như: giác cúc, giác tầng, cabochon…) và cũng liên quan đến độ chính xác của các góc và tỷ lệ của viên đá thành phẩm. Một viên đá cắt mài tốt sẽ đạt sự cân đối, các tỷ lệ giữa các phần cắt mài phù hợp và độ bóng tốt, viên đá sẽ có độ rực sáng và sự tán sắc cao.

Bên dưới đây là một số cắt mài phổ thông:

Hình Tên kiểu cắt mài Hình Tên kiểu cắt mài
  Cabochon   Giọt nước
  Hình nệm   Công chúa
  Emerald   Tròn giác cúc
  Hạt dưa   Vuông
  Ovan   Tam giác


Chiết suất

Sự khúc xạ là khả năng của vật liệu giúp làm chậm và đổi phương truyền của ánh sáng. Chiết suất (còn gọi là chỉ số khúc xạ) của một vật liệu là tỷ lệ giữa vận tốc ánh sáng truyền trong không khí với vận tốc ánh sáng truyền trong vật liệu ấy. Chiết suất là một đặc điểm của mỗi loại khoáng vật và được dùng để xác định khoáng vật ấy. Thiết bị đo chiết suất gọi là chiết suất kế (hay khúc xạ kế).

Chrysoberyl

Khoáng vật chứa oxit nhôm và berylium. Các loại đá quý của nhóm beryl có biểu hiện đặc tính quang học đặc biệt là đá chrysoberyl mắt mèo (hiệu ứng mắt mèo) và alexandrite (đổi màu theo nguồn sáng khác nhau). Ngoài hai đá kia, loại chrysoberyl trong suốt, màu vàng, mài giác cũng được dùng trong nữ trang.

Corundum

Khoáng vật kết tinh từ oxid nhôm, gồm hai loại đá quý ruby và saphia. Corundum là khoáng vật rất cứng, chỉ thua kim cương. Những corundum xấu thường được dùng làm vật liệu mài mòn.

Cửa sổ

Vùng nhìn xuyên qua được hay là vùng ánh sáng thoát ra phía dưới làm màu của viên một viên đá trong suốt nhạt hơn, đây là kết quả từ cách cắt mài viên đá.

Đá mắt mèo

Đá quý có hiện ứng quang học đặc biệt gọi là hiệu ứng mắt mèo: một lằn sáng duy nhất quét ngang viên đá, giống như mắt mèo. Nếu chỉ gọi là “đá mắt mèo” thì đó là đá chrysoberyl mắt mèo. Còn nếu như các đá khác cũng có hiệu ứng mắt mèo thì gọi bằng tên đá đó cùng với từ “mắt mèo”, như tourmaline mắt mèo, alexandrite mắt mèo…

Đá quý

Đá quý là một khoáng vật hoặc vật liệu hữu cơ được dùng làm trang sức vì có vẻ đẹp, tính hiếm và bền vững.

Đá quý tổng hợp

Là một đá quý được chế tạo tại phòng thí nghiệm hay nhà máy có cùng các tính chất vật lý, hóa học và quang học như của đá quý trong tự nhiên. Thí dụ, ruby tổng hợp là khoáng ruby nhưng do nhân tạo, không có trong tự nhiên. Đá tổng hợp khác với đá thay thế, là vật liệu giống với đá tự nhiên về dáng vẻ và màu sắc, nhưng khác các tính chất hóa lý và quang học. Không phải mọi đá quý trong tự nhiên đều có thể tổng hợp thành công trong phòng thí nghiệm. Các đá tổng hợp như ruby, saphia, emerald, spinel và thạch anh tím thì phổ biến trên thị trường. Còn kim cương tổng hợp đã được nuôi đầu tiên phục vụ trong công nghiệp điện tử, nhưng chưa phổ biến trên thị trường đá quý.

Đá thay thế (Đá giả)

Bất cứ vật liệu nào giống một đá tự nhiên thì đều dùng được để thay thế đá quý tự nhiên. Đá thay thế còn gọi là đá giả có thể là đá quý tự nhiên hay vật liệu nhân tạo, thí dụ đá zircon không màu tự nhiên có thể dùng để thay thế kim cương. Đá thay thế do nhân tạo phổ thông nhất là hột Mỹ (còn gọi là cubic zircon tổng hợp), dùng làm giả kim cương; đá spinel tổng hợp với nhiều màu khác nhau dùng thay thế cho nhiều loại đá quý; và các đá thay thế khác như thủy tinh, plastic, đá ghép…

Đá thô

Là tên thương mại dùng cho các vật liệu đá quý còn ở trạng thái tự nhiên, chưa được cắt mài.

Độ bão hòa

Là cường độ màu, xếp từ yếu đến rất mạnh (rực rỡ).

Độ bền vững

Là khả năng của viên đá chống lại sự cọ sát, nhiệt độ và hóa chất. Kim cương, ruby, saphia là những đá có độ bền vững cao nhất.

Độ chắc

Là khả năng của đá quý chống lại bể và mẻ.

Độ cứng

Độ cứng là khả năng của vật chất tự nhiên chống lại sự trầy xướt. Độ cứng được đo tương đối theo thang Mohs, là một thang đo không tuyến tính (các số đo biến đổi không tỷ lệ thuận): thí dụ, độ lệch về độ cứng giữa mức 9 và 10 lớn hơn rất nhiều so với độ lệch giữa 8 và 9. Thang độ cứng Mohs gồm  10 mức, từ cao xuống thấp gồm: 10- kim cương, 9- corundum (ruby, saphia), 8- topaz, 7- thạch anh, 6- fenpat orthoclase, 5- apatite, 4- fluorite, 3- canxit, 2- thạch cao, 1- talc.

Móng tay của người cứng 2,5; lưỡi dao thép 5,5.

Độ ổn định

Khả năng đá quý chống lại tác dụng của ánh sáng, nhiệt và hóa chất.

Độ rực sáng

Lượng ánh sáng trắng từ bên trong và bên ngoài đá quý quay trở lại mắt. Đá quý càng đẹp khi có độ rực sáng càng cao.

Độ sạch

Sự hiện diện hay vắng mặt các bao thể và dấu vết bên ngoài ở một viên đá quý gọi là độ sạch. Một bao thể thường liên quan đến một đặc điểm thành tạo khi đá quý hình thành bên trong trái đất. Bao thể có thể được tạo ra từ một vật chất bên ngoài, độc lập với thành phần hóa học của đá quý, có thể là một tinh thể nội không thể phát triển được nữa hoặc là các khe nứt nhỏ nằm trong đá quý. Bao thể mang nhiều ý nghĩa: nó có thể là tác nhân gây hư hỏng cho đá như gây bể hoặc nứt; nhưng cũng có thể giúp xác định viên đá và nguồn gốc thành tạo của nó. Độ sạch của đá màu thường được xác định bằng mắt thường, khác với độ sạch của kim cương, được xác định dưới phóng đại 10 lần.

Fenpat

Là một nhóm đá gồm các nhóm phụ có liên hệ gần gũi chứa một số loại đá quý đặc biệt như đá mặt trăng, đá mặt trời, labradorite và amazonite.

Garnet

Garnet là một nhóm khoáng vật gồm 6 nhóm phụ liên hệ gần gũi: almandine, pyrope, grossular, spessartite, andradite và uvarovite. Nhiều loại đá quý garnet là một hỗn hợp của từ hai thành phần trở lên của các nhóm phụ này. Thị trường đặt tên cho những loại garnet phổ thông, như rhodolite màu đỏ phớt tím đến hồng, malaya màu cam phớt đỏ. Những garnet phổ thông khác gồm pyrope màu đỏ sẫm (còn có tên garnet bohemian), almandine màu đỏ phớt nâu rẻ tiền, andradite màu lục đẹp (còn gọi demantoid), grossular màu lục gọi là tsavorite và spessartite màu cam là garnet mandarin.

GIA

Viện Ngọc Học Hoa Kỳ (GIA) thành lập năm 1931, là một đơn vị phi lợi nhuận, đã giúp hơn hàng trăm ngàn người yêu thích đá quý có nghề nghiệp trong ngành ngọc học, thiết kế nữ trang, sản xuất và kinh doanh. Học trực tiếp tại 14 cơ sở đào tạo trên toàn thế giới hoặc học từ xa, sinh viên GIA được cấp các giấy chứng nhận làm cho hầu hết họ được tôn trọng và trở thành những nhà kim hoàn thành công trên thế giới.

Tuy nhiên GIA không chỉ là một trường học, nó còn được thế giới biết đến như là một trung tâm thông tin và các phương tiện nghiên cứu. Phòng xét nghiệm của GIA phục vụ như một thành phành phần thứ ba độc lập, mà các dịch vụ phân cấp và giám định do nó cung cấp được giới công nghiệp đá quý và nữ trang tin tưởng bậc nhất.

GIA phát triển hệ thống phân cấp chất lượng kim cương gọi tắt là 4C. Và bây giờ GIA đang cung cấp các kiến thức ngọc học đến với mọi người thông qua các giáo trình trực tuyến miễn phí. Các thông tin trực tuyến cũng là nội dung mà các sinh viên ở GIA cũng đang học, sẽ giúp cho nhiều người không đến được GIA có các kiến thức cần thiết.

Grossular

Là một khoáng vật silicat nhôm và canxi thuộc nhóm garnet, gồm các loại đá quý như garnet tsavorite và garnet hessonite.

 

 

Bài viết Từ vựng Đá quý: Từ A đến G ( http://www.homenh.vn/blog/tu-vung-da-quy-tu-a-den-g.html ) được sưu tầm bởi Đá Hộ Mệnh (http://www.homenh.vn). Xin vui lòng giữ nguồn khi tái sử dụng thông tin. Chân thành cảm ơn.

Leave a Reply