Tìm hiểu “ Những năng lượng kỳ lạ chữa bệnh”?

Tìm hiểu “ Những năng lượng kỳ lạ chữa bệnh”?
Nhiều năm qua, đặc biệt những năm gần đây đã rộ lên một phương pháp dưỡng sinh mới – rèn luyện và tập “thu năng lượng vũ trụ”. Cũng từ đó đến nay chưa thấy có lời giải thích nào thoả đáng: Năng lượng vũ trụ là gì, từ đâu tới, tác động tốt hay xấu đến sức khoẻ con người và thực sự có chữa được bệnh không…? Mới đây, loại năng lượng này còn được xem là “Những năng lượng kỳ lạ chữa bệnh”.  Vậy thử tìm hiểu xem sao ?

Năng lượng vũ trụ (NLVT) trong đó có năng lượng mặt trời đã được con người quan tâm nghiên cứu từ lâu và được gọi dưới nhiều tên , như là “Prana” – Ấn Độ, “Tiên thiên khí“ và “Khí” – phong thủy cổ Trung Hoa, “Ánh sáng tinh tú” – trường phái Kabbalah Do Thái. Không ít quan niệm cho rằng: vũ trụ phát sinh ra 2 thế giới – thế giới tế vi và thế giới vật thể. Thế giới tế vi phát sinh trước dưới dạng trường xoắn nhiều tầng nhiều lớp, trong đó bảo tồn thông tin gọi là “trường thông tin toàn thể” hay còn gọi là “ lý trí vũ trụ” “tạo hóa”, “Thượng đế”.  Còn ngày nay như mọi người đã biết: những gì  mà vũ trụ gửi tới trái đất được gọi là “tia vũ trụ” – Cosmos Rays,  “bức xạ vũ trụ” – Cosmos Radiation. Còn “năng lượng vũ trụ” -  Cosmos Energy là hệ quả song hành với  quá trình bức xạ.
Phát hiện ra sự tồn tại của tia vũ trụ được thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Lúc đó, các nhà vật lý biết chắc rằng sự ion hoá không khí lấy điện tích khỏi tĩnh điện nghiệm có nguồn gốc ngoài trái đất. Millikan là người đầu tiên đã đưa ra một cách tin tưởng giả thiết đó và gọi hiện tượng này với cái tên gọi hiện đại đầu tiên là: “Bức xạ vũ trụ”. Năm 1927 nhà bác học Nga D.D. Xkobeltxưn là người đầu tiên đã chụp được ảnh vết các tia vũ trụ trong buồng ion hoá. Bằng những phương pháp thông thường, các nhà khoa học cũng đã xác định được năng lượng của các hạt vũ trụ rất lớn trong khoảng 108 – 1020 electronvon. Năng lượng này lớn hơn năng lượng có thể tạo ra trong những máy gia tốc mạnh nhất tới 8 bậc. Nghiên cứu bản chất của các tia vũ trụ đã được các nhà vật lý thực hiện bằng nhiều khám phá xuất sắc. Thí dụ : chứng minh sự tồn tại positron hoặc lần đầu tiên phát hiện ra trong các tia vũ trụ có các mezon –  hạt có khối lượng ở giữa khối lượng của proton và electron… Bức tranh về “bức xạ vũ trụ” đã được các nhà khoa học đưa ra khá rõ nét như vậy. Tuy nhiên bức xạ vũ trụ gửi tới trái đất hầu hết bị hấp thụ và phản xạ bởi khí quyển trái đất. Các tia gamma, tia X, và tử ngoại bị các nguyên tử và phân tử của khí quyển hấp thụ. Bức xạ hồng ngoại bị hấp thụ trong một vùng phổ rộng do các phân tử nước (H2O) và dioxytcarbon (C02). Sóng vô tuyến có bước sóng dài bị phản xạ ngược vào vũ trụ bởi các lớp quyển ion ở phía trên khí quyển trái đất. Phần trên của khí quyển trái đất bị ion hóa do bức xạ cực tím của mặt trời. Trong khí quyển trái đất chỉ có hai cửa sổ hẹp cho phép bức xạ vũ trụ lọt qua gọi là cửa sổ trong phổ điện từ : cửa khả kiến và hồng ngoại gần, bước sóng 0,4 – 3m đi qua và cửa sổ vô tuyến bước sóng 2 (15.000 mega Hec) – 30mm (10 mega Hec) đi qua. Phổ bức xạ vũ trụ còn lại tới được mặt đất chỉ gồm:
Sóng radio và TV- HF và LF (High Frequencies and Low Frequencies). Sóng radio AM – VLF (Very Low Frequencies). Sóng TV và Video – VHF (Very High Frequencies). Sóng TV và radio – FM. Microwave:  SHF (Super High Frequencies)
Sóng hồng ngoại xa (Far Infrared). Sóng hồng ngoại gần (Near Infrared). Sóng ánh sáng nhìn thấy (Visible Light). Sóng tia cực tím (Ultraviolet). Tia X (X Rays). Tia gamma (Gamma Rays). Khi lan truyền, sóng điện từ mang theo năng lượng, động lượng và thông tin. Môn vật lý chuyên nghiên cứu sóng điện từ là điện động lực học. Bản chất của chúng chính là bức xạ điện từ (Electromagnetic radiation) bao gồm điện trường và từ trường biến thiên, lan truyền vuông góc với nhau trong không gian với vận tốc ánh sáng (trong chân không  c = 299.792.458m/s). Năng lượng của 1 hạt photon có bước sóng  là h.c/. Trong đó h là hằng số Plant, c là vận tốc ánh sáng. Như vậy bứơc sóng càng dài thì năng lượng photon càng giảm. Khi tương tác (tia sơ cấp) với các nguyên phân tử và các hạt cơ bản khác hình thành tia thứ cấp. Năm 1957, bức xạ “phông vũ trụ” vết tích của Big Bang- bức xạ tàn dư của Big Bang đã được phát hiện. Đây là nguồn bức xạ vô tuyến trên bước sóng 7cm và được coi là: “bầu sữa mẹ của muôn loài”. Kết quả quan sát và mô hình lý thuyết cho biết: vũ trụ chỉ chứa 27% vật chất, 73% còn lại là năng lượng. Đa số vật chất là “vật chất tối” không nhìn thấy mà bản chất của chúng vẫn còn chưa được xác định. Chỉ còn 4% vật chất là những nguyên tử thông thường phát ra ánh sáng và bức xạ mà các nhà thiên văn nhìn thấy và quan sát được. Chưa hết, ngày nay nhờ có sự ra đời của thiên văn vô tuyến đã cho phép các nhà thiên văn phát hiện ra nhiều loại bức xạ vũ trụ khác đến từ các ngôi sao xa xôi như: Quasar và Punxa – những thiên thể kỳ lạ. Quasar là một lỗ đen ở rất xa trong vũ trụ, phóng ra những đám khí electron có tốc độ đo được lớn hơn cả tốc độ ánh sáng. Nguyên lý chuyển động siêu ánh sáng được giải quyết như một ảo ảnh quang học. Các sao siêu nặng (khổng lồ) phát ra bức xạ vô tuyến xincrotron rất mạnh. Sau khi tiêu thụ hết năng lượng hạt nhân nổ tan, lõi ngôi sao bị nén đến mức vật chất bị biến dạng trở thành notron. Ngôi sao notron vừa quay nhanh vừa phát ra những xung bức xạ vô tuyến nên các nhà thiên văn gọi là Punxa (Pulsating Star). Ngay cả nguồn bức xạ gần trái đất nhất là mặt trời cũng đôi khi bùng nổ dữ dội với chu kỳ 11 năm bức xạ ra những luồng gió gọi là gió mặt trời. Tạo ra một tầng plasma gồm những hạt electron và ion có năng lượng cao, bao quanh trái đất. Gió mặt trời không đồng đều và chụm lại thành từng cụm hạt làm cho trái đất phải hứng chịu những trận bão từ trường mạnh. Cho tới nay các nhà thiên văn đã tìm thấy trong dải Ngân Hà hơn 100 phân tử, chưa kể các chất đồng vị. Các phân tử này tồn tại dưới dạng khí. Các sao trẻ sao già không đủ năng lượng phát ra ánh sáng mà chỉ phát ra bức xạ hồng ngoại. Có nhiều các phân tử thông thường như ôxit cacbon, andehyt, amin, axit, cồn, rượu, muối,…Như vậy bức xạ vũ trụ hay còn gọi là NLVT đến trái đất có phổ khá rộng. Trong đó có tia có lợi như ánh sáng nhìn thấy, bức xạ tàn dư và có tia có hại cho sức khỏe như tia tử ngoại, tia X, tia Gamma…Tuy nhiên, không chỉ có thế, ngoài tia vũ trụ ra, chung quanh ta còn rất nhiều tia khác nữa như: phông bức xạ phóng xạ tự nhiên, phần lớn hình thành do bức xạ . Trên đỉnh núi cao hoặc ngoài trời độ phóng xạ lớn hơn nhiều so với mặt biển. Các phi hành đoàn thường làm việc ở độ cao có lượng phóng xạ cao hơn so với mặt đất khoảng 20 lần. Phóng xạ loại này có ở khắp mọi nơi. Tức là con người sống chung với phóng xạ – thường xuyên chịu sự tác động của chúng. Bổ sung vào lượng bức xạ phóng xạ tự nhiên này còn có : các bức xạ phát ra từ các đồng vị phóng xạ có trong đất đá, cây cối, thức ăn, nước uống, không khí… Bức xạ tự nhiên chiếm 85%. Trong đó đất đá chiếm 18%, khí Radon 42%, thức ăn nước uống 11%, tia vũ trụ 14%. Hầu hết chúng có đời sống dài. Mức độ phóng xạ thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố : địa lý, khí hậu, thành phần không khí, thành phần chất đất, vật liệu xây dựng, điều kiện thời tiết : mưa, áp xuất khí quyển, hướng gió, địa hình cao thấp. Nguyên nhân chung nhất của sự tăng phông phóng xạ là xạ khí Radon. Radon thoát lên từ dưới mặt đất qua kẽ nứt của vỏ trái đất. Nếu nó lan tỏa theo không khí thì ít nguy hại, nếu tích đọng lại tập trung trong nhà khép kín không được thông gió thì thực sự nguy hại. Chưa hết, cùng một lúc, tại một địa điểm, con người còn phải gánh chịu tác động của rất nhiều loại bức xạ đến từ các nguồn khác như “địa bức xạ”- Georadiation, từ trường có nguồn bên ngoài trái đất, từ quyển ion chiếm 1% và thay đổi theo không gian và thời gian (địa từ chiếm khoảng 98%, từ trường nguồn gốc khoáng đất chiếm 1%).
Trường năng lượng trong đó có NLVT có hiệu lực cấu tạo đối với vật chất và xây dựng các hình thái vận động chung và riêng. Mọi tương tác trong vũ trụ đều có thể được coi là “tương tác trường”. Cơ thể sinh vật nói chung, con người nói riêng là hệ thống mở có khả năng trao đổi năng lượng với môi trường ngoài, trong đó có bức xạ vũ trụ. Đương nhiên tương tác này không đơn giản chỉ thông qua một số cửa sổ gọi làluân xa. Vì bức xạ vũ trụ như đã đề cập bản chất là sóng điện từ. Một lưu ý quan trọng đối với môi trường này là điện trường không thể xuyên qua vật liệu xây dựng. Ngược lại từ trường không hề bị vật liệu này cản lại. Nên mỗi khi có bão từ, mọi người được cảnh báo: những ai bị bệnh thần kinh, tim mạch hoặc huyết áp cao hạn chế đi ra ngoài nhà là không chính xác. Ví dụ khác, để bức xạ sóng cực ngắn – vi ba, phông bức xạ tàn dư, đi sâu vào các tổ chức cơ thể sống, nó phụ thuộc hoàn toàn vào tần số. Cụ thể: tần số khoảng 20.000 – 30.000 MHz lớp da ngoài cùng hấp thụ. Tần số khoảng 1000 – 3000 MHz lớp biểu bì của da hấp thụ. Dưới 1000 MHz lớp sâu trong cùng của da hấp thụ. Từ dưới 150MHz sóng này thấm xuyên qua cơ thể. Đối với bão từ, bệnh viện Trung ương Nga và Viện nghiên cứu Địa từ trường và Truyền sóng thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga thống kê, mỗi khi bão từ xẩy ra số ca đột quỵ tim tăng 2 đến 2,5 lần. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo hàng năm có khoảng 60.000 người bị chết vì ánh nắng mặt trời. Tia cực tím UV-A làm cho da bị lão hóa nhanh dẫn đến nhăn nheo. UV-B gây ung thư da và đục nhân mắt…Còn rất nhiều ví dụ khác về tác dụng có hại của tia vũ trụ. Tất cả những gì gọi là tia – tia vũ trụ, tia đất, tia trong không gian bao quanh con người đều mang năng lượng và hiển nhiên luôn luôn hiện diện mặt tích cực và có cả tiêu cực đối với sức khỏe con người. Chúng tồn tại tuân theo những quy luật, định luật nhất định của tự nhiên thông qua những trường vật lý. Các trường này tương tác lồng ghép đan xen chằng chịt theo nhiều chiều, nhiều hướng một cách phức tạp, theo các hệ quy chiếu khác nhau hết sức chặt chẽ và có trật tự….Thực ra đó chính là môi sinh –“Trời”, “Đất”,  “Khí quyển”, “Thủy quyển”, “Sinh quyển”… Môi sinh đã tạo ra con người và quy định ngưỡng các yếu tố con người tồn tại đều đã ở trạng thái cân bằng (cân bằng động). Nên nếu có điều gì xẩy ra khác thường sẽ được gọi là dị thường. Đáng tiếc hiện nay nhiều người vẫn coi NLVT như là nguồn “thuốc bổ trên trời rơi xuống vừa huyền bí vừa vô tận”. Gợi ý: “Các môn dưỡng sinh ngày nay cần mở các luân xa để thu năng lượng vũ trụ có tác dụng chữa bệnh” cần phải có sự hướng dẫn tỷ mỷ của các chuyên gia, thầy thuốc giỏi nếu không thì đôi khi lợi bất cập hại, có thể dẫn tới  cái gọi là “tẩu hoả nhập ma”(?) .
Chú ý khi có bệnh vẫn nên đến bác sỹ khám và điều trị. Chỉ nên coi tập luyện dưỡng sinh là môn bổ sung nâng cao sức khoẻ và hỗ trợ điều trị với một số bệnh thuộc về tâm năng. Năng lượng sinh học ở mỗi cơ thể mỗi khác và mức độ thu nhận có khác nhau, thậm chí người có tác dụng, người không. Tuy nhiên, niềm tin cũng là năng lượng tạo cho con người ta sức mạnh. Khi tin tưởng, sức mạnh của mọi thứ trong cơ thể sẽ được huy động và giúp thêm vào điều trị bệnh”. Bởi vậy,  mỗi người hãy tự rút ra kết luận: “Những năng lượng kỳ lạ chữa bệnh” là gì và liệu có chữa được bệnh hay không?./.

Bài viết Tìm hiểu “ Những năng lượng kỳ lạ chữa bệnh”? ( http://www.homenh.vn/blog/tim-hieu-%e2%80%9c-nhung-nang-luong-ky-la-chua-benh%e2%80%9d.html ) được sưu tầm bởi Đá Hộ Mệnh (http://www.homenh.vn). Xin vui lòng giữ nguồn khi tái sử dụng thông tin. Chân thành cảm ơn.

Leave a Reply