Opal

Công thức: SiO2.nH2O

Tên gọi: Tên gọi của khoáng vật này bắt nguồn từ từ tiếng Phạn upala – “đá quý”. Opal là silic dioxit ngậm nước, có nghĩa là thạch anh vô định hình chứa từ 6 – 10% nước.

Tên gọi khác, biến thể:

- Arlekin – Có các đốm sặc sỡ loang lổ màu đỏ, xanh lá cây, vàng và xanh da trời.

- Hyalit – opal trong suốt trông như màu thuỷ tinh.

- Girazol – đá màu trắng nhợt với đốm mờ phớt xanh da trời hay phớt đỏ.

- Opal hoàng đế – opal có ruột màu đỏ sẫm và phần rìa màu xanh lá cây tươi.

Những đặc điểm chính: Có hơn 100 biến thể với rất nhiều sắc màu do chứa các tạp chất của sắt, mangan, niken và nhiều nguyên tố khác, tuỳ theo màu sắc một số loại opal có tên gọi riêng. Tính chất đặc trưng của những loại đá này có thể không còn khi bị mất nước hoặc khi tiếp xúc với dầu mỡ.

Tính chất vật lý

- Độ cứng : 5,5 – 6,5 – Tinh hệ : Vô định hình

- Tỷ trọng : 2,1 g/cm3 – Ánh : Thuỷ tinh

Tính chất chữa bệnh: Người Hinđu tin rằng, opal giúp cho trẻ em mau lớn. Có ý kiến cho rằng, khi opal mất đi ánh lấp lánh là dấu hiệu báo có bệnh ở chủ nhân của đá. Các nhà thạch học trị liệu hiện đại cho rằng, opal phát triển trực giác và có ảnh hưởng tốt tới hệ thần kinh, tuyến yên và đầu xương. Cho rằng, opal điều hoà tất cả các chức năng của cơ thể và bảo vệ chống bệnh nhiễm khuẩn.

Tính chất khác:
Nhờ có sự phong phú về sắc màu mà từ thời cổ opal đã là biểu tượng của sự thất thường, tượng trưng cho số phận hay thay đổi, nó làm cho trực giác trở nên tinh nhạy và giúp tạo ra cảm hứng. Ở Phương Đông, nhất là Ấn Độ, opal từ lâu đã được coi là đá của tình yêu, sự tin tưởng và lòng trắc ẩn. Bằng ánh lấp lánh trên bề mặt viên đá, opal soi sáng trí tuệ, xua đuổi những ý nghĩ u tối và nỗi sợ hãi. Khi nhìn vào opal, những thầy pháp Ấn Độ hồi tưởng lại những hóa thân của mình trước kia. Opal là biểu tượng của hạnh phúc, hy vọng và tình yêu trìu mến dịu dàng. Những loại đá này liên tưởng đến những ý nghĩ trong sáng và sự đồng cảm.

Opal là biểu tượng của chòm sao Song ngư trong cung hoàng đạo, năng lượng chiếu xạ của Dương tuỳ thuộc vào màu sắc của đá.

Công dụng khác : Opal quý dùng làm đá trang sức, trang hoàng. Đá khuê tảo (tripôli) dùng để đánh các đồ kim khí. Kissengua dùng để chế đồ gốm, làm gạch nhẹ.

Nguồn gốc sinh thành:
Opal nhiều khi đọng trong suối nhiệt dịch và suối phun ở các khu vực núi lửa, đôi khi thành những thạch nhũ trắng, trong suốt có quang thái ngọc. Opal cũng phổ biến trong các hỗng và khe giữa những đá phún xuất. Đôi khi thành hốc khoáng và hạnh nhân. Nhưng khối chính của opal thành tạo trong điều kiện ngoại sinh, do sự phá huỷ silicat trong quá trình phong hóa các đá.

 

Bài viết Opal ( http://www.homenh.vn/blog/opal.html ) được sưu tầm bởi Đá Hộ Mệnh (http://www.homenh.vn). Xin vui lòng giữ nguồn khi tái sử dụng thông tin. Chân thành cảm ơn.

4 thoughts on “Opal

Leave a Reply