
CONICANXIT(conichalcite)
- Công thức : CaCuAsO4(OH)
- Độ cứng theo thang Mohs : 4.5
- Khối lượng riêng : 4.3 g/cm3
- Hệ tinh thể trực thoi
- Ánh thuỷ tinh
Conicanxit thuộc nhóm asenat - hợp chất chứa asen. Khoáng vật được đặt tên vào năm 1849 .Nó bắt nguồn từ Hy Lạp cổ konit – nghĩa là “bột“ , “bụi “ và chalx – vôi ,”đá vôi” .Thường gặp conicanxit dưới dạng thành tạo dạng chùm nho, khối kết tủa và khối vỏ tinh thể conicanxit riêng biệt dược hình thành trong đới ôxi hoá của quặng đồng và thường được gặp trong thành phần của quặng sắt nâu. Kích thước của chúng không lớn và thường có màu xanh tươi do chứa đồng. Tuy nhiên còn gặp conicanxit ở dạng tinh thể màu phớt vàng. Cả hai loại đều có sắc độ tương đối rực rỡ. Conicanxit được coi là họ hang của malachit và azurit. Conicanxit được khai thác ở Hoa Kỳ, Mêhicô, Chi Lê, Tây Ban Nha, Ba Lan, Zaia …
Tính chất chữa bệnh
Chuyên gia về tính chất chữa bệnh của đá cho rằng, conicanxit “được chuyên môn hoá “ cho bệnh về da. Loại đá này có tác động đến các bệnh liên quan đến eczema, đỏ da và phát ban. Có ý kiến cho rằng , conicanxit có thể tác động tích cực trong điều trị bệnh vảy nến nếu bệnh chưa đến giai đoạn quá muộn .
Tính chất mầu nhiệm
Conicanxit tăng cường khả năng giao tiếp của chủ nhân, giúp làm quen với người lạ một cách dễ dàng. Còn có ý kiến cho rằng conicanxit có ảnh hưởng tích cưc đến việc phát triển trí tưởng tượng .
Ảnh hưởng tới luân xa
Đối với luân xa vùng họng kiểm soát các cơ quan hô hấp và bộ máy thính giác, da, hoạt tính của luân xa này giúp tự chủ trong hoạt động xã hội và nghề nghiệp, đem đến cảm giác mãn nguyện .
Năng lượng chiếu xạ của Dương.