Đặc sắc cổ vật văn hóa óc Eo
Đầu thế kỷ 20, không ít người tin rằng đã tồn tại một đế quốc Phù Nam thịnh vượng, rộng lớn. Khi phồn thịnh nhất lãnh thổ của nó bao chiếm phần lớn khu vực hạ lưu sông Mê Kông.
Đầu tiên năm 1944 ở VN, nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret khai quật cánh đồng óc Eo (xã Vọng Thê, Thoại Sơn, An Giang). Cuộc khai quật ấy khiến người ta củng cố lòng tin về vương quốc Phù Nam vốn đã láng máng biết trước đó qua thư tịch cổ Trung Quốc và minh văn trên bi ký.
TS Phạm Quốc Quân - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử VN - cùng nhiều nhà sử học Đông - Tây nghiêng về phỏng đoán rằng Phù Nam không phải đế quốc cai trị và bóc lột mà chỉ là tập hợp của những tiểu quốc.
GS Lương Ninh, trong một chuyên khảo đã định vị một trong số nhiều tiểu vương quốc đó là Naravaranagara ở miền Tây sông Hậu, mà Óc Eo lại nằm trong đất của quốc gia cổ đại này. Tất nhiên, đây cũng chỉ là một giả thuyết.
Sau 1975, giới khảo cổ VN kế tục công cuộc nghiên cứu của L.Malleret, khai quật hàng loạt di chỉ từ Đồng Nai tới Kiên Giang, mang về cho các bảo tàng Nam Bộ hàng vạn hiện vật giá trị.
Hơn 300 cổ vật đặc sắc văn hoá óc Eo hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử VN cho thấy quyết tâm muốn chứng minh tính bản địa và sự phát triển của văn hoá óc Eo (TK 2 - TK 8) và vương quốc Phù Nam tại VN của các nhà sử học trong nước.
Từ di tích cư trú, di chỉ di vật kiến trúc, mộ táng, tượng thờ, đồ sinh hoạt và sản xuất...đều cho thấy cư dân óc Eo cách chúng ta 8 - 13 thế kỷ rất giàu có, tôn giáo tín ngưỡng phát triển và nghề buôn bán bằng đường biển thì... cực thịnh.
Đá quý, thiếc, thuỷ tinh, vàng, mã não, rồi đồ gốm, chì lưới, mộ táng ở nền Chùa, óc Eo, Đá Nổi, kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo ở Nền Chùa (Kiên Giang), óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp)..., tất cả cho thấy một đời sống sinh động của cư dân Phù Nam. Độ tinh xảo trên một số đồ trang sức thể hiện rõ nét tài hoa của người thợ kim hoàn đương thời.
Sưu tập tiền với nhiều loại chất liệu bạc, đồng, kẽm, có những đồng tiền cắt tư, cắt tám để làm tiền lẻ tìm thấy ở óc Eo cũng khá phổ biến ở nhiều di tích ven Vịnh Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Myanmar.
Như vậy, đã hình thành một dòng chảy thương mại nối liền óc Eo với Ấn Độ Dương bằng đường biển qua Vịnh Thái Lan và có thể bằng cả đường bộ theo đường nội địa. Những quả cân nhỏ bằng kẽm và những con dấu (kiểu bản địa, kiểu ấn Độ, kiểu La Mã, Hy Lạp) là bằng chứng của nền thương mại mang tính quốc tế.
Các nhà khảo cổ VN cũng tìm thấy hiện vật giai đoạn tiền Óc Eo, chứng tỏ sự phát triển theo quy trình tiếp biến của văn hoá Óc Eo. Hơi tiếc, ở cuộc trưng bày, dấu ấn bản địa, nội tại chưa hẳn đậm đặc.
TS Phạm Quốc Quân nói: “Trước đây người ta thường né tránh nhắc tới vương quốc Phù Nam và Champa, nhưng bây giờ chúng ta đã đưa chúng vào Lịch sử VN. Chúng tôi muốn phần nào chứng minh rằng dù có tiếp nhận, tiếp biến từ La Mã, Ba Tư, ấn Độ, thì Óc Eo vẫn là nền văn hóa phát triển nội tại, bản địa tiến tới đỉnh cao của nó là vương quốc Phù Nam”.
Từ ngày 27/4, Bảo tàng Lịch sử VN phối hợp với 11 bảo tàng các tỉnh phía Nam như An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Nai, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh tổ chức phòng trưng bày chuyên đề "Cổ vật đặc sắc văn hoá Óc Eo".
![]() |
| Tượng thần Visnu bằng đá, thế kỷ 7 |
Khoảng 300 cổ vật Óc Eo có mặt trong trưng bày tại Bảo tàng LS VN thuộc các loại hình phong phú: Hiện vật sinh hoạt, sản xuất có cọc gỗ của nhà sàn, các vật dụng của bếp núc, các loại hình đồ gốm, dọi xe sợi, chì lưới; các đồ trang sức bằng đá quý, thiếc, vàng, thuỷ tinh, mã não. Di vật kiến trúc như gạch, các cọc gỗ, linga làm vật thờ, cột đá... tìm thấy trong các di chỉ kiến trúc đền thờ Bà La Môn giáo... Nhóm tượng thờ gồm có các tượng bằng chất liệu đá, đồng, gỗ như tượng Visnu ở lòng sông Đồng Nai, đầu tượng Brahma ở Óc Eo, đặc biệt là tượng Phật bằng gỗ niên đại rất sớm, thế kỷ IV.
Văn hoá Óc Eo là nền văn hoá lớn phát triển ở khu vực phía Nam nước ta vào đầu công nguyên. Óc Eo vốn là tên một cánh đồng phẳng và thấp trải rộng trên địa bàn hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Nền văn hoá nổi tiếng này được định danh sau cuộc khai quật đầu tiên do Louis Malleret (Pháp) tiến hành vào năm 1944 tại Óc Eo. Ngay khi những tài liệu khảo cổ ở Óc Eo được công bố trên tập san của trường Viễn đông Bác cổ, người ta đã coi đó là những dấu vết của Vương quốc Phù Nam, một quốc gia cổ được biết từ trước qua thư tịch cổ Trung Quốc và minh văn trên bia ký.
Theo ông Phạm Quốc Quân, GĐ Bảo tàng LS VN, 60 năm qua kể từ sau cuộc khai quật đầu tiên của nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret, các nhà khoa học VN đã làm được một số điều đáng kể. "Với các cuộc khai quật liên tiếp kể từ sau ngày giải phóng miền Nam, không gian văn hoá Óc Eo đã được mở rộng ra khỏi phạm vi cánh đồng Óc Eo và sườn núi Ba Thê thành một dải suốt từ tỉnh Đông Nam Bộ là Đồng Nai tới tận đồng bằng sông Cửu Long. Quan điểm ban đầu của người Pháp cho đây là nền văn hoá ngoại nhập, tiếp thu từ Ấn Độ hay La Mã cổ đại. Tuy nhiên, những lớp Tiền Óc Eo được tìm thấy đã chứng tỏ sự phát triển nội tại hay là tính bản địa của nền văn hoá này" - ông Quân cho biết.
Qua 60 năm, khảo cổ học VN đã có thể phác hoạ những nét chính của quần thể di tích Óc Eo. Theo đó, Óc Eo là một cảng thị có vòng thành bằng đất, hào nước xung quanh, dài 3 km, rộng 1,5 km. Cảng nằm trên bờ con kênh cổ Lung Lớn chạy xuyên trục dọc của cảng thị. Óc Eo cho thấy vết tích của một hệ thống kênh đào rộng lớn dài tới ngót trăm km, những kiến trúc hỗn hợp gạch và đá mà nhiều khả năng là các đền thờ, những ngôi nhà sàn, những ngôi mộ xây kiểu cổ. Có những kiến trúc lớn như Gò Cây Thị, Giồng Xoài, Giồng Cát, Nền Chùa...
Nhiều giả thuyết cho rằng Phù Nam là tập hợp của nhiều tiểu quốc khá độc lập mà mảnh đất miền Tây sông Hậu nơi có cánh đồng Óc Eo là một trong những tiểu quốc đó.
| Cổ vật “triệu đô” của văn hóa Chămpa và Óc Eo |
Cổ vật “triệu đô” Bức tượng Phật bằng đồng của văn hóa Chămpa có niên đại từ thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, được tìm thấy tại tỉnh Phan Rang, được xem là cổ vật quý hiếm trong đợt trưng bày này.
Tiến sĩ Bá Trung Phụ, Trưởng phòng trưng bày, tuyên truyền Bảo tàng Lịch sử VN (TP.HCM) cho biết, cổ vật này đã từng gây xôn xao các nhà khảo cổ trên thế giới về giá trị lịch sử và cả giá trị thẩm mỹ của nó. Một số nhà khảo cổ quốc tế đã định giá cho bức tượng cao hơn 1m này lên đến 10 triệu USD. Cũng thuộc nền văn hóa Chămpa, bức tượng nhỏ thể hiện hình đầu nữ thần Siva là một trong năm cổ vật cực hiếm của thế giới theo thể loại này. Toàn bộ bức tượng được tạc bằng vàng khối và được phủ một lớp đồng đen để tránh tình trạng mất cắp trong quá trình thờ phụng.
Hiện vật thuộc loại cổ nhất đại diện cho nền văn hóa Óc Eo lại chính là những món trang sức của người xưa. Có thể nói, kỹ thuật chế tác trang sức của nền văn hóa Óc Eo cách đây hơn 1.500 năm đã đạt đến độ tuyệt mỹ, với những chi tiết thiết kế tinh xảo và kích thước nhỏ gọn. Khi được hỏi về việc định giá cho bộ sưu tập trang sức cổ của văn hóa Óc Eo này, Tiến sĩ Bá Trung Phụ cười cho biết: “Chưa nhà khảo cổ nào dám đưa ra một con số cụ thể cả. Vì có lẽ bộ sưu tập này là vô giá”. Trong đợt khảo cổ văn hóa Óc Eo tại Trà Vinh, các nhà khảo cổ VN đã tìm thấy một đồng tiền La Mã (vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau công nguyên), cho thấy văn hóa Óc Eo đã sớm hội nhập với các nền văn hóa khác trên thế giới. Một minh chứng khác đó là bức tượng Phật bằng gỗ sao (có niên đại từ thế kỷ thứ 6 sau công nguyên) được tìm thấy trong tình trạng gần như nguyên vẹn tại Tháp Mười, Đồng Tháp. Tuy thể hiện tôn giáo của người phương Đông, nhưng bức tượng Phật này lại ảnh hưởng bởi phong cách phương Tây, với thân hình cao lớn, các chi tiết trang trí được tối giản.
Phong cách bảo tàng học hiện đại Ngoài việc giới thiệu 439 hiện vật giá trị cao của nền văn hóa Chămpa và Óc Eo, hai phòng trưng bày mẫu của Bảo tàng Lịch sử VN (TP.HCM) còn thu hút khách tham quan bằng một không gian hoàn toàn mới, phù hợp tiêu chuẩn bảo tàng hiện đại. Để làm mới toàn bộ khu vực trưng bày này, Bảo tàng Lịch sử VN (TP.HCM) đã phải tháo gỡ, di đời gần 500 hiện vật, tủ, kệ, bục bệ của phòng triển lãm cũ, tiến hành cải tạo nội thất, gia cố hệ thống sàn, lắp đặt hệ thống ánh sáng chuyên dùng…
Theo phương pháp bảo tàng học tiên tiến hiện nay, cổ vật phải được trưng bày trong phòng kín, hạn chế tối đa ảnh hưởng của ánh sáng tự nhiên và tác động môi trường. Ánh sáng sử dụng trong phòng trưng bày không vượt quá 20 độ lux, đảm bảo việc bảo quản cổ vật, nhưng vẫn phải thể hiện được tính nghệ thuật.
Chương trình tiêu chuẩn hóa hai phòng trưng bày mẫu tại Bảo tàng Lịch sử VN (TP.HCM) thuộc dự án Phát huy di sản bảo tàng Việt Nam do Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ CHXHCN Việt Nam phối hợp thực hiện. Tham dự lễ khánh thành hai phòng trưng bày mẫu về văn hóa Chămpa và Óc Eo, ông Hervé Bolot - Đại sứ Pháp tại Việt Nam cho biết: “Chúng tôi mong muốn được đem đến cho các bạn những công nghệ và kỹ thuật mới của bảo tàng học hiện đại, cùng với thông điệp: các bạn hãy tự tin trong việc thực hiện những dự án bảo tàng học như thế này”.
|
Ngỡ ngàng cổ vật Chăm Pa, Óc Eo
Nhiều cổ vật cực kỳ quý hiếm lần đầu được công bố tại hai phòng trưng bày cổ vật văn hóa Chăm Pa, Óc Eo của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM, mở cửa đón công chúng từ ngày 12/1. Tiến sĩ Bá Trung Phụ, đang giảng dạy về văn hóa Chăm Pa và Óc Eo ở các trường đại học, đồng thời là cán bộ của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, cho biết ông chỉ có thể ước chừng giá của từng cổ vật cụ thể, còn tính chung cả bộ thì… vô giá. Bảo hiểm hàng triệu USD Chẳng hạn, bức tượng Phật cao 1,2m mang phong cách nghệ thuật Đông Dương, có từ thế kỷ thứ 8, được đặt ngay ở cửa phòng trưng bày. Dù chưa bao giờ đưa ra đấu giá, nhưng khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho các bảo tàng ở Pháp, Bỉ mượn để trưng bày về điêu khắc Chăm Pa, bức tượng đã được bảo hiểm với mức giá kỷ lục. Theo đó, nếu để xảy ra mất cắp, số tiền phía bảo hiểm phải đền là 6 triệu USD. Tương tự, bức tượng đá chân dung thần Devi, vợ của vua Indravacman và là biểu tượng của vẻ đẹp người Chăm, cũng được bảo hiểm với giá gần 2 triệu USD. Một cổ vật quý khác là bức tượng thần Siva bằng vàng, mà theo tiến sĩ Phụ, cả thế giới chỉ còn lại 4 cái. Điều thú vị là qua thời gian, bức tượng này đã bị ai đó bôi đen để kẻ cắp không biết là tượng vàng. Phòng trưng bày cổ vật Óc Eo còn đem đến cho người xem cả một niềm thích thú với bộ sưu tập tiền đồng và trang sức như khuyên tai, vòng tay, nhẫn, hạt chuỗi… bằng các chất liệu như đá quý, pha lê, vàng, đồng. Thật lạ lùng là dù chúng đã có mặt cách nay hơn 10 thế kỷ, nhưng kiểu dáng, thiết kế không khác mấy so với trang sức hiện đại! Trưng bày theo phong cách Pháp Hai phòng trưng bày cổ vật Chăm Pa, Óc Eo nối tiếp phòng hiện vật triều Trần, khác biệt so với phần còn lại của bảo tàng nhờ phong cách thiết kế hiện đại trong một không gian thoáng, cộng thêm hệ thống đèn chiếu cực mạnh soi rõ những đường nét tinh tế của cổ vật, kết hợp những khoảng không mờ tối hợp lý và dịu mắt. Cách trưng bày mới này là cả một cuộc “lột xác” của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM sau 5 năm làm việc với các chuyên gia của Bảo tàng Nghệ thuật Châu Á Guimet của Pháp, Bảo tàng Quốc gia Phnôm Pênh trong khuôn khổ dự án “Phát huy di sản bảo tàng VN” hợp tác giữa hai chính phủ Việt - Pháp.

Bức tượng phật cao 1,2m được bảo hiểm 6 triệu USD Ảnh: Minh Chánh
Số cổ vật thuộc văn hóa Óc Eo và Chăm Pa có mặt trong hai phòng trưng bày là 439 món đồ được sắp đặt không theo trình tự niên đại mà theo hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo. Ông Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng, cho biết trước đây văn hóa Chăm Pa và Óc Eo chỉ là một chuyên đề nhỏ ở đây. Nhưng nay, với những hiểu biết mới của giới khoa học, đã đến lúc hai nền văn hóa này cần được đặt cao hơn trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam.
Nhiều chuyên gia cho rằng, bộ sưu tập cổ vật văn hóa Chăm Pa và Óc Eo của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM là một trong những bộ sưu tập đầy đủ nhất trên thế giới, bên cạnh bộ sưu tập của Bảo tàng Điêu khắc Chăm ở Đà Nẵng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội. Tiến sĩ Bá Trung Phụ tiết lộ, số cổ vật Chăm Pa và Óc Eo mà Bảo tàng đang lưu giữ lên tới gần 5.000.
Đệ nhất cổ vật Óc Eo
Những cổ vật của nền văn minh cách đây hai ngàn năm ở miền Tây

Tôi hoàn toàn sững sờ khi đặt chân đến ngôi nhà nhỏ của anh Tạ Mân ở ấp Trường Thọ I, thị trấn Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ. Căn nhà rộng chừng 40m2 của anh trông giống như một bảo tàng thu nhỏ, nơi chủ nhân trưng bày hàng trăm cổ vật Óc Eo, một khối di sản quý giá mà đến ngay cả một nhà sưu tập cổ vật chuyên nghiệp cũng phải thèm muốn.
Ít ai nghĩ rằng một người chuyên sống bằng nghề làm ruộng vườn như Tạ Mân lại khá thông thạo về một nền văn hoá lâu đời của Vương quốc Phù Nam xưa, chủ yếu nhờ tự nghiên cứu trong quá trình sưu tầm những cổ vật Óc Eo. Tạ Mân năm nay 48 tuổi, hiện là thành viên CLB Cổ vật TP. Cần Thơ, hội viên Hội Di sản văn hoá Việt
Hành trình tìm
Tạ Mân kể, từ năm 20 tuổi anh đã bắt đầu say mê đồ gốm sứ cổ như chén Lâm Quế của Trung Quốc, gốm Bát Tràng của ông nội để lại. “Tôi thường lấy ra lau chùi, lâu ngày càng nhìn càng thấy thích, từ đó tôi bắt đầu sưu tầm và nghiên cứu đồ cổ”, Mân cho hay. Bao nhiêu tiền dành dụm được anh đều mang đi mua những cái bát, chén cũ, việc làm đó khiến những người trong nhà cho rằng anh là thằng “điên”. Tuy vậy, nghe ở đâu có “hơi” đồ cổ, dù xa mấy anh cũng quyết tìm đến xem, nếu cái nào thấy thích mà chủ không muốn bán, anh tìm mọi cách để mua cho bằng được.

Mười năm sau đó, trong một lần về thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn bên tỉnh An Giang thăm bạn, anh tình cờ gặp một nông dân vừa đào được tượng đồng Phật Quan Âm “thiên thủ, thiên nhãn” cao 1,1m, nặng 25 kg. Thị trấn Óc Eo nằm gần núi Ba Thê là trung tâm di chỉ Óc Eo. “Lúc đó, tôi như bị bức tượng đồng cuốn hút, thế là tôi quyết tâm mua cho bằng được nên đã dốc hết hầu bao đổi lấy bức tượng”, Tạ Mân kể.
Từ cái duyên ban đầu đó, Tạ Mân tâm niệm chỉ “chơi” cổ vật Óc Eo mà thôi! Mê chơi đồ cổ thì phải tìm hiểu rõ nền văn hoá chúng ra đời. Và sự hiểu biết về nền văn hoá Óc Eo của anh dường như song hành với số lượng các cổ vật mà anh sưu tầm được. Anh tìm đọc khá nhiều sách về lịch sử, văn minh xứ Phù

Cũng có một thời gia đình làm ăn thua lỗ, anh phải bán đi một số đất vườn để đeo đuổi “cuộc chơi”. Cách đây hơn 10 năm, nghe nói có một nông dân ở Ba Thê vừa đào được bức tượng bằng đá lạ lắm, tượng cao 1,55m, nặng 90 kg, anh đã bỏ tiền ra mua và nhờ chuyên gia đồ cổ đến xem tượng. Tạ Mân như lặng đi khi biết đó là bức tượng thần Hari Hara có niên đại thế kỷ thứ VII. Mân cho biết, từ khi có bức tượng quý, gia đình vợ chồng anh gặp nhiều may mắn trong công việc làm ăn, khiến anh thêm tự tin vào niềm đam mê mà những người hàng xóm cho là kỳ quặc.
Đam mê của Tạ Mân còn truyền sang cả người bạn đời của mình, chị Cao Thị Xuân Đào. Bao lần lang thang sưu tầm cổ vật ở vùng núi Ba Thê, khoảng 50 km từ nhà, anh đều đi cùng chị. Cổ vật đã hấp dẫn họ. Còn đối với tôi, họ chính là những con người kỳ lạ, có sức hấp dẫn người khác nhờ vào vốn hiểu biết phong phú và sâu sắc của họ về những giá trị cổ xưa.
Hấp dẫn cổ vật Óc Eo
Tượng thần Hari Hara đó chính là điều gây cho tôi ấn tượng mạnh mẽ khi bước vào căn nhà của Tạ Mân. Thần Hari Hara là hoá thân của hai vị thần Silva và Vishnu, có nửa con mắt ở giữa trán. Anh cho biết: “Theo thư tịch cổ, Vishnu là vị thần sáng tạo, có 10 hóa thân khác nhau, vị thần được tin là có thể đem lại sự may mắn”.
Tạ Mân tiếp tục cho tôi xem bức tượng đá thần Vishnu hoá thân thành phụ nữ, hông đeo con ốc, phần lưng tượng là hai bàn chân gập ngược sát vào nhượng, trông rất đẹp. Kế đó là tượng đồng Hejvara thế kỷ 15 theo phong cách Hindu của Ấn Độ; cặp tượng Ganesa thế kỷ 13 nam, nữ mặt người đầu voi đang quì trên bộ sử thi; tượng Linga thế kỷ thứ 10 được làm bằng đá hoa cương, trên tượng có mắt thần cao 7 cm.

Vào sâu bên trong nhà còn có những cổ vật quí giá bằng nhiều chất liệu khác nhau như: tượng Champa bằng đất nung được phủ lên lớp nhựa cây vào khoảng thế kỷ 13-14; bộ kinh sử bằng đá và phù điêu đá có hình Đức Phật của nền văn hoá Ăngkor ở vào thế kỷ thứ 17; tượng thần Apsara bằng đồng ở vào khoảng thế kỷ 10-12; bộ binh khí thờ cúng Óc Eo; tượng Phật làm bằng gỗ TK 15; tượng thuỷ thần Inđu mà người dân ấn Độ khi đi biển thờ cúng để cầu bình an. Những cổ vật này đều được Tạ Mân mua tại vùng di tích văn hoá Óc Eo.
Tượng đá Óc Eo cái nào cũng rất nặng, cầm trên tay hơi đá toả ra mát lạnh. Quan sát những tượng bị bể, bên trong có từng lớp đá màu sắc khác nhau. Tạ Mân chỉ những đốm đen trên tượng đá hoa cương, nặng 40 kg mà ông gọi là tượng đầu bà Liễu Diệp, một nữ vương trị vì vương quốc Phù

Tinh tế nhất là những món trang sức nhỏ bằng mã não, đá global, đá đạt ma cùng khá nhiều đá hình trứng có khắc chữ mà các nhà khảo cổ chưa đọc được, mà nhiều người cho đó là chữ Phạn. Đó là những con rùa bằng ngọc, dưới bụng mỗi con có một chữ “Phật” bằng Hán tự. Rùa ngọc nhỏ cỡ 1cm nên muốn xem chữ phải dùng kinh lúp. Kế đến là những cổ vật khoảng 2-3 cm, gồm tượng voi thần Ganesa, bò thần Nandin, thần Siva, thần Gama, tượng nào cũng được khắc hoạ tỉ mỉ từng chi tiết, phải dùng kính lúp xem mới thấy hết sự điêu luyện tinh xảo của chúng.
Tất cả những cổ vật Óc Eo đều được hai vợ chồng Tạ Mân trân trọng giữ gìn như một gia sản bất khả xâm phạm. Mặc dù chưa được xác nhận, nhưng tôi tin rằng với số cổ vật Tạ Mân đang sở hữu, bộ sưu tập của anh có thể được xem là “đệ nhất cổ vật Óc Eo” của miền tây Nam bộ.
![]() | |
![]() | ![]() |
Thông tin thêm (Nguồn: Wikipedia):
Óc Eo là tên gọi do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đề nghị đặt cho một địa điểm nằm ở phía nam tỉnh An Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long (huyện Thoại Sơn). Nơi này có thể đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7.
Vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, Malleret bắt đầu đào các hố khai quật. Malleret đã phát hiện được các di vật và nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của một địa điểm thương mại lớn mà các thư tịch của Trung Hoa đã từng miêu tả về vương quốc Phù Nam.
Óc Eo đã từng được nối bằng một kênh đào dài 90 km về phía bắc với Angkor Borei, nơi được cho là thủ đô của vương quốc Phù Nam. Sự thịnh vượng của Óc Eo có được xưa kia là do nó nằm trên trục đường thương mại trên biển giữa một bên là bán đảo Mã Lai và Ấn Độ và bên kia là sông Mêkông cùng với Trung Quốc. Vào thời kỳ phồn thịnh của Óc Eo và Phù Nam, tàu thuyền trong khu vực có thể thực hiện những hải trình rất dài mà không phải đi dọc theo bờ biển.
Ngoài khu vực được xem là “thành phố Óc Eo” có diện tích 4.500ha, còn có một vài vùng ở miền tây Nam bộ như: Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Kiên Giang… mà cho đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu, khảo cổ.
Khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập - Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách trung tâm Thành phố Cần Thơ khoảng 50 km về hướng tây.








