Các con phố ở Hà Nội

Phố Hàng Cháo

Phố Hàng Cháo bắt đầu từ ngã năm Nguyễn Thái Học – Hùng Vương, chạy dài 200m đến phố Tôn Đức Thắng, nằm trên đất thôn Cổ Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương thời Nguyễn. Trước đây dân làng Đông Lỗ, Kim Động, Hưng Yên ra đây dựng lều, lán,sản xuất và bán loại hương đen thờ cúng ngày giỗ Tết. Lúc ấy phố được gọi tên là phố Hàng Hương.

Năm 1945, nạn đói hoành hành, một số gia đình ở huyện Bình Lục, Nam Hà chạy lên đây ngụ cư kiếm sống. Đàn ông thì đi bốc vác, làm thuê, kéo xe. Phụ nữ nấu cháo bán ngay tại phố: Cháo trắng, cháo trai, cháo đậu đen, cháo đậu phụ… Nhiều người còn quẩy gánh cháo bán rong khắp nơi ở Hà Thành. Từ năm 1947 phố được đổi là phố Hàng Cháo. Tên phố tồn tại đến nay.

Phố Hàng Cháo trước đây phần đông là những người nghèo, nhà ở một tầng, thấp bé, nhếch nhác. Bên dãy lẻ chỉ là bức tường của “Trường thương binh hỏng mắt” kéo dài quá nửa phố. Con đường lổn nhổn đá răm. Khi “chợ cóc” đồ điện Trần Phú giải toả, một số người như bà Tư Lùn, bà Bình, bà Thông… đã tìm đến phố “khởi nghiệp”, bầy bán những vòng bi, dây điện, phụ kiện đồ điện, dụng cụ cơ khí, trên những chiếc mẹt ngồi nhờ vỉa hè của các nhà bên dãy chẵn. Rồi khách quen đông dần, việc buôn bán thuận lợi. Một số nhà cho thuê cửa hàng hoặc học hỏi rồi tự kinh doanh. Vào thời kỳ đổi mới, các nhà tập thể phía sau dãy tường của “Trường thương binh hỏng mắt” thi nhau phá bức tường, biến cửa sau thành cửa trước. Hàng loạt cửa hàng đua nhau mọc lên. Hàng Cháo trở thành phố chuyên doanh vật liệu điện, vật liệu thông tin, điện máy.

Phố Hàng Cháo giờ đây mang diện mạo mới. Con đường trải nhựa phẳng lì thoáng, rộng gần 20m. Hai bên là những toà nhà cao 4 – 5 tầng. Các cửa hàng san sát với những biển hiệu lớn trương lên choán ngợp cả tầng 2, rực rỡ sắc màu, tô đậm thương hiệu mạnh mẽ, đầy tự tin: T`iến Đạt, Vĩnh Hưng, Phúc Vinh, Long Vũ, Kim Phượng, Hùng Vương… Cửa hàng chất ngất những cuộn dây điện, dây cáp đủ loại, đủ màu. Trong quầy thì xếp cơ man những vật liệu điện: Cầu dao điện, ổ cắm, phích cắm, bóng đèn các loại… Cửa hàng Thu Hằng, Hưng Nhân chuyên bán những loại vòng bi thông dụng, vòng bi đặc chủng, dây curoa, phớt, gioăng…

Cuối phố, một loạt cửa hàng kinhdoanh mặt hàng cơ khí như dao tiện, dao doa, đá mài, dụng cụ đo lường, panme, thước cập… Giữa phố là các “Đại gia” chuyên bán những máy công cụ có mặt bằng bề thế, xếp đủ chủng loại, máy khoan, máy cắt, máy nén khí, máy mài, máy phát điện của các hãng nổi tiếng trên thế giới. Như để hoàn chỉnh thêm cho một “Siêu thị điện máy”,phố Hàng Cháo còn bốn cửa hàng bán dầu, mỡ bôi trơn và hàng loạt các cửa hàng sửa chữa bảo dưỡng máy công cụ. Nhìn những người thợ cần cù chăm chỉ, tỉ mẩn tháo dỡ những chiếc máy cũ để sửa chữa bên quầy hàng, sát lề đường, giữa một không gian thương mại sầm uất, khiến du khách bỗng cảm nhận một Hàng Cháo gần gũi thân quen và thật đáng yêu.

Phố Nguyễn Cao vào kỳ đổi mới

Phố Nguyễn Cao thuộc lọai phố “bảy nổi ba chìm”. Khi viết về phố Nguyễn Cao, tôi phải tìm đến một “thần dân” lâu đời nhất – thầy giáo Bích Hải, nghe thầy kể về số phận con phố thân yêu của mình.

“Nguyễn Cao (1828 – 1887), người làng Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, đỗ giải Nguyên khoa Đinh Mão, triều đình nhà Nguyễn cử làm Bố chánh Thái Nguyên. Khi bọn thực dân Pháp đem quân đánh Bắc Kỳ, ông bỏ quan, cùng nhân dân khởi nghĩa đánh Pháp. Khởi nghĩa thất bại, ngày 4/4/1887, ông bị Pháp bắt đem về Hà Nội tra tấn dã man. Nguyễn Cao mắng giặc, tự rạch bụng mình cho chúng biết tinh thần yêu nước.

Phố Nguyễn Cao nối từ ngã tư phố Lê Quý Đôn, đến ngã ba phố Lò Đúc, dài 330 mét, vốn là đất thôn Cảm Ứng, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Giữa thế kỷ XIX, thôn Cảm Ứng hợp với thôn Yên Hội thành thôn Cảm Hội, tổng Hậu Nghiêm đổi thành tổng Thanh Nhàn. Thời Pháp thuộc là phố 163. Sau Cách mạng tháng Tám mang tên Nguyễn Thị Bình. Thời kháng chiến chín năm có tên Chu Mạnh Trinh, tác giả bài thơ “Hương Sơn phong cảnh ca” nổi tiếng: Tháng 6/1964, phố chính thức mang tên Nguyễn Cao.

Thầy giáo Hải kể, cách đây 30 năm, xuất hiện “chợ cóc” giữa phố, chợ cứ “bung” ra, “lấn chiếm” dần rồi choán hết chiều dài lẫn chiều ngang phố Nguyễn Cao. Người Hà Nội chỉ biết “chợ Nguyễn Cao” sầm uất, chứ không nhớ là phố. Chợ tiện thì có tiện, nhưng bà con phố “sở tại” phải gánh hậu quả sống chung với rác chợ, ồn ào, mất trật tự trị an, thậm chí dắt chiếc xe máy vào nhà cũng không có lối đi…

Cuối năm 2006, chợ Nguyễn Cao giải tỏa, trả lại tên phố Nguyễn Cao. Ông Hải cùng bạn bè thả bộ dọc phố vừa được trải thảm nhựa phẳng lỳ phong quang sạch đẹp, tự hào phát biểu: “Phố Nguyễn Cao bắt đầu từ hôm nay”. Khai Xuân, bà con dân phố dân chủ họp bàn, hạ quyết tâm xây dựng phố Nguyễn Cao văn minh đô thị, xanh, sạch, đẹp”. Ông Hải chỉ tay về phía đầu phố nói: Phố Nguyễn Cao chia làm hai đoạn. Đoạn đầu phố không có số nhà, từ ngã tư Lê Quý Đôn đến ngã balà số nhà Một. Vốn là đầu hồi các khu tập thể.

Những năm 80 thế kỷ trước, bà con tự “mở cửa” đục tường mở quán bán hàng, thế là thành dãy phố buôn bán đông vui từ sáng sớm đến 23h khuya. “Thượng vàng hạ cám”, chẳng thiếu gì cả, dư sức “tự cung tự cấp” phục vụ bà con trong khu phố và nhiều khu phố lân cận. Sang trọng thì có “Trung tâm sửa chữa điện thoại Samsung”, các nhà may thời trang “Thúy Hồng”, “Ngọc Hoa”; “Nhà thuốc Nguyễn Cao”, chẳng kém ai. Các cửa hàng trình bày “bắt mắt”, giá bán vừa túi tiền bà con lao động. Khách phần nhiều là bà con lối xóm, “tối lửa tắt đèn có nhau”, có tiền trả ngay, chưa có tiền mua “chịu” trả sau cũng được. Chủ hàng lấy chữ “tín”, chữ “tin” làm đầu. Khách hàng cũng không lợi dụng, phụ lòng tốt người bán. Các cửa hàng Trúc Thành bán bánh kẹo đường sữa, quầy rau sạch, cửa hàng công nghệ thực phẩm, đại lý mì ăn liền đều có một phương thức phục vụ thuận tiện, hết lòng vì khách hàng. Sáng sớm, trước giờ đi làm ghé qua cửa hàng yêu cầu, chiều về nhận hàng trả tiền yên tâm đủ cân, đủ lạng, đảm bảo chất lượng.

Cửa hàng cơm bình dân duy nhất, địa chỉ quen thuộc của các công chức Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Xí nghiệp Dược phẩm I, bà con lao động, sinh viên học sinh, các cụ già ngại nấu nướng ở nhà… Ăn tự chọn, nóng sốt “cơm dẻo canh ngọt”, giá bình dân như tên gọi của cửa hàng. Nhà hàng phục vụ tận cơ quan, gia đình nếu có yêu cầu.

Đoạn từ số 1 đến hết phố, bên sỗ chẵn, chạy hết chiều dài phố là cơ quan Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, nhà cửa kiến trúc kiểu Pháp, nguy nga, sang trọng xứng đáng là một viện nghiên cứu “cấp” quốc gia, có 100 năm tuổi. Bên số lẻ có nhà xây mới hoàn toàn, có nhà tân trang lại, thẳng tắp theo chỉ giới quy định tạo một bộ mặt mới của phố Nguyễn Cao. Vỉa hè lát bằng gạch “lục lăng” dày, trắng đỏ xen lẫn sinh động. Cống rãnh “đi ngầm”, hàng cột điện cao áp thẳng tắp làm cho phố Nguyễn Cao mang dáng dấp một đường phố hiện đại.

Các thương nhân phố Nguyễn Cao cũng biết tận dụng triệt để tất cả số nhà có mặt tiền. Tuy phố Nguyễn Cao mới khôi phục, các cửa hàng đã đi vào khai thác hết công suất. Giữa phố, nhà hàng Fashion Shop 3D cửa kính, máy lạnh, mở rộng cửa đón kháchtừ sáng sớm đến đêm khuya. Một cửa hàng vàng, đá quý sáng choang trang trọng. Cửa hàng ánh Dương – quần áo thời trang, giày dép trẻ em; cửa hàng chăn màn, vải Nhật, chăn đệm Hàn Quốc, nhiều màu sắc làm bừng sáng phố Nguyễn Cao đang chuyển mình. Đại lý Long Vân bán nước mắm cao cấp, kề bên cửa hàng hải sản đông lạnh làm nên vị mặn mòi của biển giữa phố. Cuối phố mới mở hiệu phở bò sốt vang “kéo” khách đến điểm tâm sáng, ngày một đông. Một cửa hàng bán “gà sạch”, bà con yên tâm đến mua, vì gà đã được kiểm dịch chặt chẽ qua y tế

Con phố “ngủ ngày”

Dài hơn 1 km, cắt ngang nhiều con phố đẹp của Hà Nội, phố Trần Quốc Toản tựa một thiếu nữ mảnh mai, ham chơi, mê quà vặt, ưa ngủ ngày (vì phố lúc nào cũng êm êm như người đang ngủ) nhưng vẫn cứ dễ yêu…

“Hộ tịch” tại quận Hoàn Kiếm, địa bàn rộng, sầm uất và đông dân cư nhất Hà Nội, thế nhưng phố Trần Quốc Toản lại rất khác biệt, vắng vẻ, thưa người qua. Cũng vì vậy mà phố trở thành không gian lý tưởng cho việc mở những quán nhạc, bar, cà phê hay hàng nước vỉa hè và hàng ăn nhỏ.

Ba tụ điểm trên phố được dân Hà Nội siêng ghé thăm nhất là: café Linh (số 98, của nhiếp ảnh gia Hoài Linh), quán nhạc New IndoChine (nhạc sĩ Phú Quang), café Báo (số 62, của Hội Nhà báo Hà Nội). Mỗi quán mỗi vẻ, nhưng có một điểm chung là: khách hàng thường xuyên của ba địa chỉ này phần đông thuộc giới văn nghệ sĩ.

Phố Trần Quốc Toản nối phố Huế với phố Trần Bình Trọng, cắt ngang qua nhiều con phố lớn như Bà Triệu, Quang Trung, và cả những phố nhỏ như Liên Trì, Trương Hán Siêu, có lối rẽ vào xóm Hạ Hồi. Hầu hết nhà cửa trên phố là nhà dân, rất ít công sở.

Nếu như, hàng sáng, các bác bên nhóm nghệ thuật tạo hình (hoạ sĩ, nhiếp ảnh gia) thường đến café Linh ngồi nhâm nhi ly cà phê, thì chiều đến, tại café Báo, cánh phóng viên lại tụ về đây, bàn chuyện những sự kiện văn hoá nghệ thuật diễn ra trong tuần.

Tối tối, tại quán nhạc New IndoChine thường vang lên những giai điệu êm mượt của những tình khúc Phú Quang viết về Hà Nội, về tình yêu đôi lứa. Thật đúng với tâm niệm của Phú Quang khi anh ra mắt quán nhạc này: “Trước khi rời Hà Nội vào TP HCM tôi đã có một ước hẹn là sẽ trở lại thủ đô, sự trầm lắng của thị trường âm nhạc bấy lâu, theo tôi, nó mang một phong cách người Hà Nội…”.

Ở đoạn giữa, gần ngã tư với phố Quang Trung, còn có tụ điểm các quán chè và bánh bao, bình dân của khách gần quanh… bánh quẩy. Dăm bảy quán kề nhau mà quanh năm luôn đông khách. Mùa nào thức ấy, tụ điểm này bán những đồ ăn vặt và nước giải khát rất hợp lối ăn chơi

Lại nói đến phong cách người Hà Nội, giữa quận 3 Sài Gòn cũng có một con đường Trần Quốc Toản. Dân Hà Nội vào Nam lập nghiệp tập trung về ở phố rất đông. Dân Sài Gòn khi nói về con phố này vẫn đùa rằng “phố Hà Nội cựa quậy” giữa Sài Gòn. Những cửa hàng rau quả tràn ra hè con phố này khiến người ta liên tưởng tới những con đường nhỏ xíu tại Hà Nội.

Phố Phạm Huy Thông

Phố được đặt tên Phạm Huy Thông từ năm 2001. Tiến sĩ Phạm Huy Thông sinh năm 1916, ở làng Đào Xá, Ân Thi, Hưng Yên. Năm 1937, tốt nghiệp cử nhân Luật tại Hà Nội, năm 1942 ông đậu Tiến sĩ Luật tại Pháp, rồi Thạc sĩ Sử – Địa tại Pháp. Ông từng giữ chức Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm, Viện trưởng Viện khảo cổ Việt Nam, Phó Chủ tịch Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam….Năm 2000 ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

Phố Phạm Huy Thông dài khoảng 600m, nằm trên đất làng Ngọc Khánh, thuộc phía Nam của “Thập Tam Trại. Trước kia đây là vùng đầmlầy, ruộng trũng chỉ cấy được một vụ lúa chiêm, dân cư thưa thớt. Ngoài nghề làm ruộng, đàn ông còn đi làm thợ nề, phụ nữbắt cua, tôm, cá mang lên các chợ nội thành bán. Cả làng toàn nhà lợp mái tranh.

Cuối thế kỷ trước, đề án cải tạo đầm lầy thành hồ Ngọc Khánh được hoàn thành. Hồ rộng 3,6 hecta, được bao, kè sạch, đẹp, với hàng liễu xanh mướt bên con đường lượn quanh, tạo thành cảnh quan đẹp và hấp dẫn. Một số gia đình nhạy cảm với thị trường nhà đất nhanh chóng tậu những lô đất phía đầu phố, xây hàng loạt biệt thự xinh xắn hai, ba tầng, có khuôn viên cây xanh tươi tốt, chủ yếu cho người nước ngoài thuê.

Hàng loạt Công ty bất động sản cũng nhảy vào cuộc. Công ty bất động sản Thiên Sơn số 46, Công ty Tam Sơn số 52, Công ty Hà Thành số 54, Công ty Phú Hưng số 74… Phố Phạm Huy Thông như một công trường xây dựng: Nhà nhà đua nhau mọc lên với tiêu chí: Vươn cao, mở rộng cửa hướng ra mặt hồ. Nhiều công ty nước ngoài đến đặt trụ sở như: Nhà máy cơ khí xây dựng Liễu Châu Trung Quốc số 22. Tổng công ty thiết bị nặng Trung Quốc số 32. Công ty TNHH An Khang đại diện cho hãng Maktec Nhật Bản chiếm lĩnh ngôi nhà số 36 với quầy hàng rộng rãi, xếp đầy các dụng cụ cơ khí cầm tay: Máy khoan, máy cắt, máy mài… chủ yếu bán buôn và phân phối cho các cửa hàng ở chợ Giời, Hàng Cháo và nhiều tỉnh miền Bắc.

Với cảnh quan môi trường thoáng rộng, mát mẻ, hàng loạt hiệu cà phê giải khát, đua nhau mọc lên san sát quanh hồ với biển hiệu thật thân thiện, dịu dàng: Càphê Diệu Ly, Cà phê Dư âm, Cà phê Xuyến Chi, Cà phê Tuấn 72, Cà phê Cây Si. Đội ngũ nhân viên thật nhiệt tình, cần mẫn và chu đáo, khách hàng thoải mái thưởng thức và ngắm nhìn cảnh đẹp quanh hồ. Nhiều cảnh quay của các “bộ phim đắt khách” đã chọn phố Phạm Huy Thông làm hiện trường sống động về đề tài xã hội. Không chỉ là phố giải khát với hơn 20 quán cà phê, phố Phạm Huy Thông còn có các cửa hàng ăn độc đáo: Quán Hói với lợn Mán, gà đồi, vịt Vân Đình cùng những món nướng đặc sắc. Nhà hàng Vân Khánh trưng bên quầy hàng những bể cá đẹp như bể cá cảnh. Hoàng Gia Tiên Tửu quán lại lát tường bằng những đoạn tre ghép suốt cả mặt tiền của 5 tầng. Gần cuối phố là nhà hàng Hàn Quốc có món đặc sản: “Lẩu Cừu”. Nơi đây tấp nập những thực khách người Hàn.

Phố Phạm Huy Thông như chưa thoả mãn với cấu trúc hiện tại. Du khách luôn bắt gặp những cửa hàng mới chuẩn bị khai trương, hay những cửa hàng đang tu sửa cho khang trang hấp dẫn hơn. Cuối phố, một công trường xây dựng thật sự bề bộn trên một mặt bằng hơn 1000m2 với những chiếc cần cẩu cao lênh khênh, những xe xúc, xe ủi và hàng trăm công nhân thường xuyên có mặt trên hiện trường. Nơi đây sẽ là Trung tâm Thương mại Ngọc Khánh 25 tầng. Đối diện ở bên kia hồ, phố có đình Ngọc Khánh, một Di tích lịch sửVăn hoá đã được xếp hạng, sẽ được khởi công tu tạo vào giữa tháng 4 năm 2007 với mức đầu tư trên 1 tỷ đồng.

Mỗi sáng sớm hay chiều tà, phố Phạm Huy Thông lại tấp nập những đoàn người từ các vùng Thủ Lệ, Vạn Phúc, Giảng Võ, Thành Công đến hồ Ngọc Khánh. Họ thong thả đi bộ, chạy nhẹ nhàng hay đứng bên hồ tập những động tác thể dục, hít thở không khí trong lành của làn gió hồ chưa bị ô nhiễm, dưới những tán cây xanh, để tiếp nhận nguồn sinh lực dồi dào, trẻ trung, khoẻ mạnh.

Đặc biệt, vào những ngày lễ lớn, đêm Giao thừa hàng năm, phố Phạm Huy Thông lại giang cánh tay đón hàng ngàn, vạn người đến thưởng thức đêm pháo hoa tưng bừng, rực rỡ, nở bung trên bầu trời soi bóng xuống nước hồ Ngọc Khánh. Thời điểm này Phố Phạm Huy Thông trở thành một trung tâm lễ hội của quận Ba Đình.

Bà Triệu, “phố nhà băng”, “phố Tháp đôi”…

Phố Bà Triệu dài gần 2000m,bắt đầu từ ngã tư Hàng Khay – Tràng Thi đến đường Đại Cồ Việt, nguyên là đất của nhiều làng cũ như Vũ Thạch, Phúc Lâm, Phục Cổ, Hồi Mỹ, Thể Giao, Long Hồ, thuộc tổng Tả Đình. Làng Long Hồ sau hợp với làng Hậu Phong Vân thành làng Vân Hồ, hiện còn chùa Vân Hồ có mặt chính ở phố Lê Đại Hành, mặt sau thông sang phố Bà Triệu. Trên phố này có chùa Vũ Thạch ở số nhà 13B,chùa Chân Tiên ở số 151.

Trước đây, phía bắc Bà Triệu có nhiều phố như: Hàng Giò, Hàng Kèn. Quãng này có một cái dốc – được gọi là “dốc kèn” và dấu vết bức tường phía nam phủ Chúa Trịnh cũ. Số nhà 18 là nơi hội họp của các đảng viên Cộng sản thời kỳ Xô Viết – Nghệ Tĩnh năm 1931. Cửa hàng Flora và số nhà 21 Bà Triệu, năm 1946là trụ sở hội liên lạc Việt – Pháp.

Phố Bà Triệu dài rộng, có hai ngã năm, bảy ngã tư, ba ngã ba, nơi tập trung nhiều cơ quan công sở Nhà nước của Trung ương và Hà Nội: Ủy ban Việt Nam với người nước ngòai (Bộ Ngoại giao), Đài tiếng nói Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Công ty In tạp chí Cộng sản, Đảng ủy quận Hoàn Kiếm; Tổng Công ty Du lịch Hà Nội…, trụ sở hai tờ báo “Đại đoàn kết” và “Hải Quan”. Phố Bà Triệu có nhiều ngân hàng: Ngân hàng Nhà nước chi nhánh HN1., TECHCOMBANK, SEABANK, INCOMBA, Ngân hàng Thương mại TMCP Sài Gòn. Ở đây còn có trụ sở Bảo hiểm Nhân thọ ở giữa phố.

Phố Bà Triệu, mươi năm lại đây trở thành trung tâm buôn bán sầm uất của Hà thành. Hè đường rộng, cửa hàng khang trang, đặc biệt có sự phân bố “chuyên môn hóa các mặt hàng”. Đầu phố, giáp Hồ Gươm là các hiệu chụp ảnh: Nguyễn Cầu FDI, Hồ Gươm, Nhật Minh, Trung tâm sửa chữa máy ảnh.

Ngã tư Bà Triệu – Hai Bà Trưng là các cửa hàng điện thoại NOKIA, kèm theo là trung tâm bảo hành SONY ERICSSON. Bên số chẵn có một dãy cửa hàng bánh kẹo của Công ty bánh kẹo Hà Nội, một thương hiệu quen thuộc của khách hàng, nhất là vào dịp Tết, Trung thu, các ngày Lễ… Đối diện là Tập đoàn Dệt may Việt Nam, veston cao cấp Nhà Bè, làm cho phố thêm sang trọng bởi những mốt thời trang hiện đại.

Phía cuối Bà Triệu có Bệnh viện Mắt Trung ương. Gần đấy là các cửa hàng kính cận, viễn, cửa hàng dược, và các nhà khám mắt tư nhân, phục vụ theo yêu cầu của “thượng đế”. Phố Bà Triệu “dưới” chuyên doanh xe máy, xe đạp với các cửa hàng như Vespa Piaggio, Honda Quốc Cường, Xe máy thế hệ mới, Xe máy Hùng Hải, Hùng Đạt, Thanh Tường, Ngọc Hạnh, Quý Hạnh. Các cửa hàng xe đạp Khánh Hiệp, Văn Đức, Thanh Tùng đủ loại xe ngoại, nội. Nơi đây còn thấy hai đại lý bán ga đối diện nhau, “Ga ngọn lửa thần” màu đỏ; “Ga Thăng Long” xanh dịu.

Điểm nhấn của phố Bà Triệu là “Tháp đôi” Vincom City Tower mới được xây dựng. Tháp đôi Bà Triệu với siêu thị lớn, khang trang, hiện đại, lúc nào cũng tấp nập, đông vui, kẻ mua, người bán. Từ Tháp đôi, du khách có thể ghé vào nhà hàng Hải ngư Nhật Bản rất yên tĩnh, ấm áp, thư thái nhâm nhi chén rượu Sakê, đắm chìm trong không gian xứ sở Hoa Anh đào giữa lòng Hà Nội. Phố Bà Triệu còn mang theo mùi thơm lạc rang húng lìu, mặt hàng mới nổi lên từ vài năm nay.

Đường Hùng Vương

Đường Hùng Vương dài 1.180m, đi từ phố Quán Thánh đến phố Nguyễn Thái Học. Mặt đường được đổ bêtông, rộng tới 40m. Đường này chính là mặt thành phía tây của toà thành Thăng Long đời Nguyễn.

Con đường này được lấy theo tên hiệu của 18 đời vua Hùng thời kỳ lập nước, thời Pháp thuộc có tên là đại lộ Brière de I’Isle. Tên hiện nay được đặt từ sau Cách mạng Tháng Tám.

Dựa vào những căn cứ khoa học, ngành sử học nước ta đã nhận định về thời đại Hùng Vương như sau: Cách đây khoảng 4.000 năm, cùng với thời đại đồng thau phát triển, nước ta đã bước vào thời kỳ Hùng Vương. Lúc này, các bộ lạc thuộc tộc Việt gồm Lạc Việt và Âu Việt đã sống rải rác ở các khu vực như Bắc Bộ, trung du, đồng bằng châu thổ…

Sau này, do nhu cầu về việc phải trao đổi hàng hoá, chống xâm lấn, trị thuỷ, các bộ tộc Lạc Việt có xu hướng tập hợp lại, trong đó bộ lạc Văn Lang là mạnh hơn cả. Thủ lĩnh của họ (về sau gọi là Hùng Vương) đã đứng ra thống nhất các bộ lạc Việt, dựng nên nước Văn Lang. Và các đời tiếp theo vẫn lấy tên hiệu của vua là Hùng Vương.

Đường Hùng Vương là một đường phố đẹp. Hai bên đường là những hàng chò nâu thẳng tắp được mang từ đất tổ Hùng Vương về trồng nên rất có ý nghĩa. Dọc con đường này có Quảng trường Ba Đình lịch sử, lăng Bác Hồ và Phủ Chủ tịch. Bởi thế, đường Hùng Vương có thể coi là một điểm dừng chân cho khách du lịch khi đến thủ đô.

Phố Lò Đúc

Phố dài tương đối, nhỏ nhắn nối từ Ô Cầu Dền lên ngã năm Phan Chu Trinh – Hàm Long. Con phố nhìn mướt mát, kể cả ngày hè nóng bức nhất cũng vẫn rợp bóng cây.

Đôi khi nhìn thoáng thở dài, nếu như một ngày nào đó, phố Lò Đúc được gột đi lớp vỏ ngoài lam lũ gồm những chuồng chim, mái vẩy hay những mặt tiền cơi nới tạm bợ của nó, bộ khung của những ngôi nhà cổ hiện ra nguyên hình, ắt hẳn đây là một con phố đẹp và vẹn nguyên không ngờ.

Nhiều gia đình công nhân thời Nhà máy Dệt kim Đông Xuân, Nhà máy Sơn, Nhà máy Rượu… gắn bó với khu phố này. Con cái họ sinh ra ở nhà hộ sinh “Cây đa nhà bò” (nhà hộ sinh B) trên phố Lò Đúc, nghe qua tưởng đẻ rơi đẻ vãi. Không biết bao nhiêu lứa công dân từ “Cây đa nhà bò” lớn lên, đi thật xa và cứ nhớ về Lò Đúc là cụ thể nơi mình sinh ra từ đấy…

Hàng sao đen bao năm nay đặc trưng con phố không còn cò đến nhưng vẫn thẳng tắp và kiêu hãnh (cò đến nhiều đến mức trước kia phố có tên là “Cò ỉa”). Phố vẫn xám xịt nhưng đông đúc thân quen…

Đường Xuân Diệu bên Hồ Tây

Đường Xuân Diệu, chỉ là cái tên mới từ năm 1996 cho con đường đê nhỏ ven hồ Tây của làng Nghi Tàm. Nó chưa hẳn phố, còn nguyên lối in bước chân đi vào hương cỏ… Mùi ổi chín, mùi lá cúc tần, mùi nhựa phi lao trộn lẫn vào ly cocktail của gió.

Từ hồ Tây đẩy lên mùi ngai ngái của bùn non. Suốt con đường hơn một cây số, cũng còn hiếm đoạn quần cư đôi bên. Đường vẫn hững hờ bỏ ngỏ một bên mà chờ gió. Chờ gió bốc con đường lên vấn vít, lách vào hàng phi lao mà ngân nga, ngân nga.

Chọn được đúng tên người của tình thơ, gắn lên một con đường đi qua là cũng muốn làm thơ. Có người bảo, ngày xưa đoạn đường này có một rặng cây ổi kéo dài, đi vào thơ Xuân Diệu. Nay không còn nhiều ổi trồng hoang dại. Cứ phải vào mùa, mới thấy đôi khi một cô thôn nữ xếp ghế gỗ ngồi bán chơi rổ ổi ương. Trái ổi con con, xanh thì giòn mà chín thì nồng hương quyến rũ. Bởi kẻ hèn mà còn nôn nao huống hồ thi sĩ, tâm hồn như tơ vương.

Bây giờ, hồ Tây là lá phổi xanh của cả thành phố. Nghi Tàm làng xưa nay thuộc quận nội thành. Đường Xuân Diệu cũng là trung tâm của quận Tây Hồ, nối nhiều khu nghỉ dưỡng, khách sạn sang trọng.

Ngay cả vùng trũng đầu Đặng Thai Mai bao lâu nay là bãi đá bóng của lũ trẻ con, nay thay vào đó là những cao ốc đang mọc lên. Rồi mai mốt kín nhà, đường phải mở lên phố. Bụi cúc tần hoang dại chẳng còn vấn vít với đám tơ hồng. Liệu lúc đó, gió có còn lối mà lên làm thơ với con đường thi sĩ hay không? Cũng chẳng biết.

Hằng ngày vẫn có cả nghìn người qua con đường, hàng trăm người bỏ tục trần lần tìm vào phủ Tây Hồ nơi đây vẫn mong. Một lúc nào đó không xa ấy, như lời người ta nói, vẫn giữ những hàng cây phi lao xôn xao, vẫn che bóng mát cho người già hoá vàng nơi phủ, cho thiếu nữ đạp xe đến trường, cho trẻ đuổi bướm tìm ve.

Phố Hàng Da

Phố Hàng Da dài 240m, bắt đầu từ chợ Hàng Da đến phố Hàng Bông. Nét đặc biệt của phố la, đầu dãy nhà lẻ gồm số 1, 1A, 1B lại bẻ ngoặt thước thợ sang phố Đường Thành, còn đầu dãy chẵn với các số nhà 2,4,6,8 lại bẻ ngoặt thước thợ sang phố Hà Trung. Con đường của phố giống như một người đứng giang hai tay đón khách.

Thời Nguyễn đây là đất thôn Yên Nội, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương, một số người buôn bán da trâu, bò, về ngõ Yên Thái, ngõ Tạm Thương để chế biến. Thành phẩm da khô được mang ra chợ Hàng Da bán. Lúc ấy chợ chỉ là vài cái lều dựng tạm kiểu chợ làng. Năm 1937- 1938 xây chợ, mặt hàng da thuộc bày bán khắp chợ và tràn ra cả phố. Từ ấy chợ và phố đều mang tên Hàng Da. Sau này nghề da thuộc được công nghệ hoá, tập trung vào các xưởng lớn như Nhà máy da Thụỵ Khuê.

Cuối thế kỷ trước, mặt hàng giả da xuất hiệntràn ngập trên phố. Nhiều cửa hàng vừa kinh doanh, vừa sản xuất các mặt hàng giả da như túi xách, đệm ghế, đệm lót, vali… Một mặt hàng khác cũng rất được thịnh hành trên phố là sản phẩm chế từ lốp ôtô hỏng. Những chiếc gầu xách nước, máng cho lợn ăn, túi xách, dây buộc hàng và nhất là các đôi dép cao su bền chắc, rẻ tiền rất được ưa chuộng.

Giờ đây, đến phố Hàng Da chỉ có nhà số 3 là xếp chồng chất các súc vải giả da đủ màu sắc, xanh, đỏ, tím, vàng .. với đủ loại hoa văn cầu kỳ, diệu vợi. Và cũng chỉ một cửa hàng duy nhất bầy bán những dải cao su buộc hàng, những chiếc gầu gánh nước, những miếng lốp cao su đang chế biến dở dang và 5 – 7 đôi dép lốp cao su treo toòng teng sát tường. Chủ cửa hàng số 15 Hàng Da là cụ Nguyễn Đình Chăm, năm nay vừa tròn 80 tuổi. Cụ mang nghề thuộc lốp xe ôtô ngày còn trẻ ở Đình Cả – Thái Nguyên về Hà Nội.

Cụ truyền nghề cho con cháu, họ hàng và trở thành mặt hàng chuyên doanh của các phố Hàng Da, Đường Thành, Hàng Điếu. Có ngày “Tập đoàn tái chế” này thu mua tới 2.000 lốp xe ôtô cũ. Cụ Chăm rất say mê tự hào với nghề của mình. Cụ tâm niệm: “Còn sống ngày nào thì còn giữ nghề ngày ấy”.

Hàng Da giờ đây kinh doanh rất phong phú và đa dạng. Đoạn đầu dãy lẻ có tới 4 quầy bán đồ điện gia dụng, những chiếc quạt máy, bếp điện, dây điện, dây ăng ten, bàn là, bóng đèn các loại xếp chồng chất lên quầy hàng. Kế đó là 3 cửa hàng sửa chữa điện, quấn lại môtơ, máy phát điện, dụng cụ cầm tay. Bên kia dãy chẵn là các quầy bán hoa qua, mùa nào thức ấy, cam, quýt, xoài, lê, táo, chôm chôm, nhãn, dưa hấu, cùng với các cửa hàng bán rượu ngoại, nước giải khát. Suốt dọc phố, tỉ mẩn ghi chép có tới 20 cửa hàng thời trang.

Nhữngnăm 1936 -1940, Hàng Da có cửa hàng may LEMUZ của hoạ sĩ Cát Tường nổi tiếng Hà Thành với các mốt cải cách y phục gây một phong trào sôi động trong giới trẻ thời đó. Giờ đây, các cửa hàng Thời Trang đua nhau mọc lên với những biển hiệu tân kỳ: Blue Jean, Japan, Vivi, Hà San… đủ chủng loại quần áo thời trang, phục vụ mọi lứa tuổi, nhất là nam, nữ thanh niên. Không chỉ thời trang quần áo, thời trang giầy dép cũng sôi động không kém.

Quầy hàng Yến Trang hai địa điểm với biển hiệu thật đẹp bầy bán giầy dép kiểu cách, sang trọng, điệu đà bên cạnh các cửa hàng giầy thời trang EU, Thời trang Malaixia …Rồi đến Mũ Thời Trang: 3 cửa hàng mũ khiêm tốn nằm rải rác cuối phố với giá cả hợp túi tiền bình dân. Có một cửa hàng thật sang trọng rực rỡ, màu sơn hồng trẻ trung, tươi tắn, làm nền cho Lôgô biển hiệu: “Nón sơn”. Như một sự nhạy cảm táo bạo, chủ nhân cửa hàng đã tìm ra một thị trường chấp nhận với giá cả đầy thách thức: Chiếc mũ rẻ nhất 300.000đ, chiếc mũ đắt nhất 2.000.000đ. Nhân viên bán hàng cũng được tuyển chọn để tạo nên một đội ngũ tiếp thị văn minh, lịch sự, thanh lịch, hiếu khách.

Một nghề kinh doanh đang có thị trường sôi động, đầy tiềm năng là Quảng cáo, đòi hỏi sự nhạy cảm tế nhị và nhất là biết đi tắt, đón đầu, chiếm lĩnh công nghệ mới. Hàng Da có đến 5 cửa hàng kinh doanh Quảng cáo với sự năng động thích ứng thị trường: ” Quảng cáo trên mọi chất liệu”, các cửa hàng Hùng, Hùng Anh, Thành Đạt… có thâm niên hàng chục năm và đứng vững trên thương trường.

Chợ Hàng Da giờ đây đã xây hai tầng, trên mặt bằng cao ráo, sạch sẽ, mặt hàng kinh doanh thật phong phú và đa dạng, khách hàng tấp nập ra vào. Bến gửi xe lúc nào cũng chật cứng. Chợ Hàng Da đã trở thành thương hiệu tin cậy, hấp dẫn với người Hà Nội và là một trung tâm thương mại lớn của quận Hoàn Kiếm.

Đào nương chưa tới tuổi trăng tròn

Thu Thảo và Kiều Anh đều là cháu nội của cụ Mùi, được cụ truyền cho nghề ca nương từ năm lên 6 tuổi, để tiếp nối truyền thống của dòng họ từ nhiều đời nay.

Qua điện thoại, nghệ sĩ đàn đáy Nguyễn Văn Khuê, cha của “đào nương” 14 tuổi Nguyễn Thu Thảo thông báo “7h tối cháu Thảo và cháu Kiều Anh mới có nhà”. Thì ra, hai nghệ sĩ nhí của chúng ta phải đi học cả ngày. Hai cô bé đều đang là nữ sinh lớp 7 trường Chu Văn An.

Con ngõ nhỏ nằm khiêm nhường trong phố Thụy Khuê, nơi đại gia đình nghệ nhân hát ca trù Nguyễn Văn Mùi cư ngụ quen thuộc đến nỗi, hỏi thăm bà cụ bán nước chè tít tận đầu ngõ, khách cũng nhận được sự chỉ bảo tận tình chu đáo. Hàng xóm láng giềng đã quen với việc khách ở xa lơ ngơ về hỏi thăm “nhà cụ Mùi hát ca trù”.

Thu Thảo tóc đen dài chấm lưng, gương mặt nhu mì bởi đôi mắt một mí dễ thương. Còn cô em Kiều Anh lại có vẻ sắc sảo, nhanh nhẹn. Hai cô đều rất biết cách diễn trước ống kính chụp ảnh và quay phim của mấy anh phóng viên đài truyền hình, cũng đang có mặt để ghi lại hình ảnh một buổi tập hát của cả gia đình có 7 đời theo nghiệp cầm ca.

Ngồi bên cạnh hai cô bé là nghệ sĩ Nguyễn Văn Khuê, cha của Thu Thảo và nghệ sĩ Thúy Hòa, cô ruột của hai cô bé. Thúy Hòa vốn là học trò cưng của NSND Quách Thị Hồ. Giọng hát của Hòa đã bay xa không chỉ trên khắp các vùng miền Việt Nam mà còn đến với nhiều nước trên thế giới.

Cô là một trong số hiếm hoi những nghệ sĩ hát ca trù của hôm nay mang được tất cả những hồn cốt, khúc thức của loại hình nghệ thuật độc đáo, bác học bậc nhất trong các loại hình nghệ thuật truyền thống Việt Nam .

Tôi đã nhiều lần nghe Thu Hòa hát tại Câu lạc bộ Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, và nhiều câu lạc bộ, nhiều sân khấu khác và thường thấy phía sau chị là hai cô cháu gái cùng hòa nhịp trống phách. Thì ra, đó là cách mà người cô muốn truyền nghề cho các cháu trong họ tộc, muốn các cháu của mình dần dần làm quen, tiếp cận với khán giả, rèn một phong thái biểu diễn an nhiên trước khán giả.

Người nghe ca trù thường rất ấn tượng với Thúy Hòa, không chỉ bởi giọng hát thôi miên, mê đắm lòng người của cô mà còn bởi toàn bộ cử chỉ, thần thái, gương mặt, ánh mắt, đôi bàn tay của cô đều toát lên một vẻ rất riêng, vừa mơ màng vừa tỉnh táo. Như thể con người cô sinh ra là để thuộc về thứ nghệ thuật cần đến biết bao sự trang nhã, tinh tế, rất vô tư, tràn đầy mỹ cảm nhưng cũng rất tiết chế xúc cảm trong mỗi điệu hát, nhịp phách này.

Những người hiểu biết về nghệ thuật truyền thống thừa nhận rằng Thúy Hòa đã tiếp cận đến những chuẩn mực của kỹ thuật hát ca trù mà cha ông để lại. Cô là một đại diện xứng đáng cho những nghệ sĩ đã dày công theo đuổi, khổ luyện với nghề.

Thấm nhuần những giá trị tinh hoa, cao quý của nghệ thuật ca trù, với ý thức gìn giữ “vốn liếng” vô giá của dòng tộc, Thúy Hòa dìu dắt hai cô cháu gái với toàn bộ tâm huyết, tình cảm của mình. Thúy Hòa nói: “Gia đình chúng tôi rất mừng vì có hai cháu gái kế nghiệp. Tổ tiên, ông bà, cha chúng tôi đã vượt qua bao khó khăn, thăng trầm để giữ gìn vốn quý của dòng họ”.

Rồi Thúy Hòa cúi xuống tiếp tục nắn nót cho hai cô cháu gái cách lấy hơi, nhả chữ sao cho tròn vành rõ chữ, sao cho rung cần, nảy hạt. Hai cô bé mặc áo dài, ngồi xinh xắn, mỗi cử chỉ nhẹ nhàng như sửa sang vạt áo, ánh mắt nhìn vừa hiền dịu, chậm rãi, vừa như thôi miên người nghe… đều thể hiện được sự dạy dỗ công phu của gia đình.

Kiều Anh là em họ của Thu Thảo, nhưng hai cô bé bằng tuổi nhau, mỗi người một vẻ. Cô Thúy Hòa thường yêu mến gọi hai cháu gái là “Thúy Vân, Thúy Kiều”. Khi “Vân, Kiều” cất tiếng “Hồng hồng tuyết tuyết”, lòng khách nghe như chùng xuống, như nhói lên một nỗi niềm hoài cổ sâu nặng. Giọng hát tuy còn non yếu nhưng đã nẩy và rung, tinh tế, chẳng hề lẫn lộn.

Nghệ sĩ Nguyễn Văn Khuê kể về con gái mình: “Khi Thu Thảo lên 4 cháu đã đọc được chính xác các nốt đàn đáy của bố và nắm bắt được rất nhanh các giai điệu. Tôi mừng quá, tin rằng cháu có thiên hướng âm nhạc. Từ đó tôi gieo cho cháu lòng yêu thích, ham mê hiểu biết, khám phá. Tôi dạy cho cháu những kiến thức cơ bản về âm nhạc, giảng giải để cháu thấm nhuần tinh thần của môn nghệ thuật ca trù.

Trong các buổi sinh hoạt gia đình, bố tôi (nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi) thường mời các nghệ sĩ biểu diễn ca trù nổi tiếng đến nhà hát trước bàn thờ tổ tiên, tôi cũng cho cháu tham gia vào. Cháu được sống trong môi trường nghệ thuật từ nhỏ nên rất khả năng cảm thụ âm nhạc rất tốt”.

Thu Thảo tự hào về dòng họ của mình lắm. Cô bé thuộc lòng lịch sử gia đình và thường “khoe” với bạn bè trong lớp học. Bà cô tổ của dòng họ Nguyễn xưa kia vốn là ca nương tài sắc nổi tiếng Nguyễn Thị Tuyết, người rất được triều đình nhà Nguyễn ưu ái.

Ca nương Nguyễn Thị Tuyết từng được giao trọng trách quản lý hệ thống ca vũ trong cung đình. Nhà vua ban thưởng cho bà một mảnh đất tại Thái Hà để xây đình Ca Công. Đình này được coi như nhà hát riêng của dòng họ. Giáo phường Thái Hà, vì thế, xưa kia là một nhóm hát danh tiếng nhất của đất kinh kỳ.

Dòng họ “Nguyễn ca trù” mỗi đời đều có những nghệ nhân danh tiếng như Nguyễn Văn Xuân, vô địch đàn đáy Bắc Hà, giọng hát của bà Phán Huy (còn gọi là bà Phẩm, mà những người mê nghệ thuật ca trù đầu thế kỷ 20 đều rất ngưỡng mộ) nổi danh bởi tiếng phách khuôn phép, mẫu mực.

Đặc biệt, cụ Nguyễn Văn Mùi, ông nội của Kiều Anh-Thu Thảo, từng được Bộ Văn hóa-Thông tin phong tặng danh hiệu nghệ nhân ca trù, người được thừa hưởng những bí quyết về đàn, trống, phách, hát trong nghệ thuật ca trù của dòng tộc.

Cụ Mùi là người nặng lòng với nghiệp tổ tiên. Trong gần nửa thế kỷ ca trù gần như bị lãng quên trong đời sống, không có người nghe cũng không có người theo học, cụ Mùi vẫn âm thầm giữ gìn ngọn lửa truyền thống của gia đình để nó không bị lụi tàn với thời gian.

Thu Thảo, Kiều Anh vẫn nhớ những ngày giỗ tổ, ông nội thường rước các nghệ sĩ, những người yêu ca trù đến ngôi nhà hương hỏa của dòng họ để cùng biểu diễn cho con cháu dòng tộc nghe.

Có lúc, cụ Nguyễn Văn Mùi cũng không tin vào sự tồn tại lâu dài của thứ nghệ thuật tinh tế này. Cụ cho các con trai đi học đàn đáy ở nhạc viện, dạy con gái Thúy Hòa các điệu hát cũng chỉ mong sau này vào ngày giỗ của mình, con cháu tề tựu trước ban thờ mà biểu diễn trước vong linh tiên tổ, coi như một nghĩa cử gìn giữ nghiệp cha ông.

Vậy là ngày ngày, ngoài việc đến lớp học văn hóa, Thu Thảo và Kiều Anh tập hát với ông nội, bố và cô Thúy Hòa. Khi được hỏi, học hát ca trù khó nhất là điều gì, Thu Thảo lễ phép: “Em thấy khó nhất là việc hát âm nẩy hạt hay còn gọi là kỹ thuật “đổ con kiến”. Khi hát miệng phải ngậm nhưng âm phải vang”.

Ca trù là một môn nghệ thuật khó. Những kỹ thuật của nó yêu cầu người hát phải có một kiến thức rộng, sâu không chỉ về phần âm nhạc mà cả văn học nữa. Vì lời thơ trong ca trù là một phần đặc biệt, quyến rũ tâm tình của người thưởng thức.

Lời thơ của ca trù thường buồn, là tiếng lòng có khi đau đớn, có khi tha thiết của con người. Lời thơ thường sử dụng chữ Hán, nên các em phải học, tìm hiểu về ý nghĩa của từng điệu ca trù thông qua sự giảng giải của người lớn.

Nghệ sĩ Nguyễn Văn Khuê luôn khuyến khích con gái học tốt môn văn học để có thể cảm thụ sâu sắc lời thơ khi thể hiện một điệu hát. Một khó khăn nữa với Kiều Anh và Thu Thảo là các em phải học kỹ thuật “đổ phách”. Trong nghệ thuật ca trù, người hát thực sự phải là một “nhạc trưởng”. Có nghĩa là các em phải làm chủ giọng hát, để người đánh trống chầu, đàn đáy có thể theo nhịp nhàng. Và quan trọng là đôi bàn tay phải rất điêu luyện với “phách”.

Người sành ca trù chỉ cần nghe tiếng phách là biết người chơi ở trình độ nào. Tiếng phách phải rất khuôn thước, nhuyễn, độ mạnh, nhẹ tùy thuộc ở từng điệu hát. Học được cho thuần thục những kỹ năng ấy, hai em phải khổ công hàng ngày trong suốt một quá trình dài. Cụ Nguyễn Văn Mùi nhìn hai cháu nội đổ mồ hôi với từng câu hát mà mừng vui khôn xiết. Công sức bao năm giữ gìn ngọn lửa truyền thống của dòng họ của ông nay đã được đền đáp.

Cho đến nay, hai chị em “Thúy Vân, Thúy Kiều” đã học và biểu diễn được nhiều làn điệu ca trù cổ như hát ru, hát giai, xẩm huê tình, gửi thư, hát nói…

Cho đến nay, hai chị em “Thúy Vân, Thúy Kiều” đã học và biểu diễn được nhiều làn điệu ca trù cổ như hát ru, hát giai, xẩm huê tình, gửi thư, hát nói…

Riêng cô em Kiều Anh có đôi mắt to tròn, sắc sảo thì nói thêm: “Hát ca trù, dáng ngồi cũng rất quan trọng đấy ạ. Ông nội em thường nói, chỉ cần nhìn cách ngồi của người hát là biết được học ở đẳng cấp nào…”.

Riêng cô em Kiều Anh có đôi mắt to tròn, sắc sảo thì nói thêm: “Hát ca trù, dáng ngồi cũng rất quan trọng đấy ạ. Ông nội em thường nói, chỉ cần nhìn cách ngồi của người hát là biết được học ở đẳng cấp nào. Học ngồi cũng là một kỹ năng khó”.

Trong ca trù, thế ngồi cũng là nghệ thuật. Người ngồi hát phải có dáng vẻ như Phật ngồi tòa sen, rất an nhiên, thư thái, dồn toàn bộ tâm lực vào trong để nén hơi, nhả chữ. Dáng ngồi đẹp là phải rất thoải mái, an nhiên, tự tại, dường như không vướng bận việc đời, và có thể “thôi miên” được người nghe.

Nhìn hai cô bé đang cố gắng thể hiện chính xác những truyền dạy của cô Thúy Hòa, rằng, phải kết hợp cho tốt giọng hát và giọng phách, hát làm sao phải nảy hạt, âm ư, khẩu hình đóng và mở linh hoạt để lời hát vang xa, thể hiện đúng tâm trạng của bài hát… khách đến thăm câu lạc bộ Thái Hà đều rất xúc động.

Những cô bé, cậu bé tuổi 13, 14 như Thu Thảo, Kiều Anh hôm nay thường mê nhạc hip- hop, thích chơi game và lướt trên net. Ca trù một khi còn xa lạ với người lớn thì sự hờ hững của các em là điều dễ hiểu. Kiều Anh hồn nhiên kể: “Ở lớp thỉnh thoảng em cũng hát cho các bạn nghe. Các bạn khen em hát hay nhưng lại bảo không thích nghe ca trù”.

Nhưng hai cô bé không cảm thấy “ngậm ngùi” về điều đó, vì ông nội thường bảo: “Ca trù là nghệ thuật sang trọng, bác học. Người ta sẽ không thể nào thấy hay nếu không thực sự hiểu về nó”.

May mắn được sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, ngay từ tấm bé, các em đã được sống trong bầu không khí thẫm đẫm âm nhạc, nghe tiếng trống, phách và tiếng hát của ông, cha mình. Và tình yêu với nghệ thuật cũng từ đó mà sinh sôi, nảy nở.

Gần 10 năm học hát, cần cù như con o­ng mỗi ngày, để nhặt nhạnh những tinh hoa từ vốn cổ của dòng tộc, Thu Thảo, Kiều Anh đã thấm nỗi nhọc nhằn và vinh quang của nghề hát. Mỗi tuần, câu lạc bộ gia đình Thái Hà của cụ Nguyễn Văn Mùi thường biểu diễn vào các ngày thứ Bảy, Chủ nhật cho khách quốc tế và người yêu ca trù tới thưởng thức.

Lo lắng xong việc học ở trường, hai cô bé lại soạn sửa khăn áo theo cô Thúy Hòa, bố Nguyễn Văn Khuê, chú Nguyễn Văn Tiến, ngồi biểu diễn trước khán giả. Nghệ sĩ Nguyễn Văn Khuê có cách dạy con rất đặc biệt.

Anh nhớ, nhiều lần Thu Thảo chán nản vì học hát quá khó, phải kiên trì với từng lời, từng chữ. Những lúc như vậy anh để con thư giãn, rồi tỉ tê kể cho con nghe những câu chuyện, những tấm gương trong lao động nghệ thuật của ông bà ngày xưa và giải thích cho con cái đẹp của âm nhạc, của ca trù. Anh muốn con gái phải học kỹ càng, bài bản và vô tư với nghề.

Anh thường giáo dục con, học hát không phải chỉ là để có một nghề như bao người khác, mà âm nhạc cần phải trở thành một thứ máu thịt, là điều gì đó tất yếu trong cuộc đời. Mỗi lời hát phải chở nặng tình cảm của người hát.

Thu Thảo và Kiều Anh thích nhất những lần được đi biểu diễn xa nhà cùng với ông và cô, được chụp ảnh với Giáo sư Trần Văn Khê, được gặp nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác. Dịp Tết, truyền hình phát chương trình về Thu Thảo hát ca trù cùng với ông nội, ra đường bao nhiêu người nhận ra cô “đào nương nhí”.

Các em là những mầm cây non đang được chăm chút trong vòng tay của những người thân yêu. Tình cảm của các em dành cho nghệ thuật là một minh chứng quan trọng để nói rằng, nghệ thuật truyền thống sẽ không là một thứ “xa xỉ” với lớp trẻ nếu chúng ta dạy cho các em biết cái hay, cái đẹp của chính nó.

Giáo sư Tô Ngọc Thanh từng rất công bằng khi đánh giá rằng, chúng ta không được đổ lỗi cho tuổi trẻ nếu họ không mặn mà với văn hóa truyền thống. Nếu các em chỉ mê nhạc hip-hop và chơi game thì đó không phải là một tội lỗi. Điều quan trọng là người lớn đã làm gì để chỉ ra cho con cháu mình thấm nhuần sự lấp lánh của những tinh hoa truyền thống mà bao đời cha ông cất giữ?

Giáo dục văn hóa truyền thống cho các em phải được lưu tâm ngay từ tấm bé. Ở trường, các em phải được dạy về văn hóa truyền thống của dân tộc, để khơi gợi tình yêu cũng như lòng tự hào về văn hóa dân tộc. Một khi việc này chưa được chú trọng, thì các bạn cùng lớp của Kiều Anh, Thu Thảo nói rằng họ không thích nghe ca trù chẳng có gì là lạ lùng.

Thúy Hòa nhìn hai cô cháu gái miệt mài gõ phách và tập luyện khẩu hình. Dường như chị cảm thấy tuổi trẻ của mình đang quay trở lại. Và người viết thì cảm nhận một điều rằng, chính là những con người giản dị trong những nếp nhà đạm bạc đã gìn giữ, nuôi nấng ngọn lửa của loại hình nghệ thuật truyền thống quý báu này, băng qua thời gian, băng qua những biến đổi của thời cuộc, những thăng trầm của đời người để truyền lại cho những thế hệ tương lai.

Khi GS Trần Văn Khê rắp tâm tạo nên một “quả bom” tại diễn đàn UNESCO bằng cách giới thiệu bộ đĩa ghi âm giọng hát của NSND Quách Thị Hồ cuối những năm 80 (thế kỷ 20), ca trù Việt Nam ngay lập tức đã làm phương Tây ngạc nhiên, sửng sốt.Đã có nhiều người nước ngoài tới Việt Nam tìm hiểu về loại hình nghệ thuật đặc biệt này, trong đó có cả những người làm luận án tiến sĩ âm nhạc.

Những nghệ sĩ trẻ như Thu Thảo, Kiều Anh chính là những người kế cận xứng đáng, để ca trù vẫn còn giữ được vẹn nguyên vẻ đẹp sang trọng, quý phái, mẫu mực cho các thế hệ hôm nay và mai sau cùng thưởng thức.

Phố “sách” Đinh Lễ

Phố “nhậu” Đinh Liệt

(Hanoinet) – Đinh Lễ, Đinh Liệt là hai anh em ruột, cháu gọi Lê Lợi là cậu. Các ông người làng Thủy Côi, huyện Lương Giang (nay là Thọ Xuân), Thanh Hóa. Khi Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn, cả hai anh em đều về “tụ nghĩa” Lam Sơn, trở thành tướng tâm phúc của Lê Lợi và đã có nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, lập nên triều đại nhà Lê.

Phố Đinh Lễ dài 200m, đầu phố nối với phố Ngô Quyền. Cuối phố giáp phố Đinh Tiên Hoàng tạo nên một “ngã ba” giàu có bậc nhất Hà Thành, một bên là Công ty vàng bạc đá quý, một bên là Bưu điện Quốc tế. Phố Đinh Lễ xưa vốn là một ngòi nước nhỏ thuộc thôn Hậu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Năm 1842, ngòi nước được lấp thànhđường, là phố Đinh Lễ ngày nay.

Bên số chẵn là các cơ quan của Nhà nước: Bộ Lao động Thương binh & Xã hội; Cục Phòng cháy chữa cháy – Bộ Công an, Bưu điện. Bên số lẻ, ngoàiCông ty Vàng bạc đá quý, Bưu cục phát hành báo chí, Công ty Quảng cáo và Hội chợ thương mại, còn là các siêu thị sách: An Ninh, Lâm, Huy Hoàng, Ngân Nga. Sách bán trong cửa hàng, sách tràn cả ra hè. Đầu phố có nhà “Bia Hầm” rất quen thuộc của các công chức, các nghệ sĩ của Nhà hát kịch Việt Nam và Hà Nội. Bia tươi, các đồ nướng ngon, rẻ, chỗ ngồi ấm cúng, kín đáo.

Phố Đinh Liệt dài 180m, nối phố Hàng Bạc và phố Cầu Gỗ. Đây nguyên là phần đất của thôn Gia Ngư và thôn Hương Minh, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Phố Đinh Liệt ngày nay thể hiện một nền kinh tế “mở” rất sôi động. Giữa phố có chợ Hàng Bè. phục vụ khách du lịch vào chợ, chơi chợ, sắm đồ, mua thức ăn từ các miệt vườn làng quê Việt Nam đưa đến.

Đầu phố là các khách sạn mini, các cửa hàng bán đồ lưu niệm, chụp ảnh, hàng thổ cẩm, đồ khảm trai, khảm gỗ: Mai Trang, Minh Thư… rất đông khách du lịch nước ngoài.Một số quán bán đồ ăn “chân quê” thuần Việt: như ốc nóng, bánh giầy giò, bánh cuốn Thanh Trì, bánh chưng, bánh giầy Quán Gánh, bánh bột lọc, bánh rán, cả ngô nếp nướng, giá rẻ. Các quán “nhậu” bình dân thu hút giới “sành” ăn đến phố Đinh Liệt rất đông. Trên phố còn có các cửa hàng mì vằn thắn có từ trên nửa thế kỷ, những người sáng lập món ăn có gốc gác từ Trung Quốc, và có nhiềuquán cơm bình dân “tự chọn”, buổi trưa rất đông khách. Ở đây còn có các sạp bán bánh mỳ, quán cà phê Sagô ở góc phố rất hấp dẫn

Cuốiphố Đinh Liệt bạt ngàn các cửa hàng bán đủ các loại len: Đức Dung, Lucky, Hải Tuyết, Anh Thành, Hà Thủy, Hạnh Thắng…. khách tuỳ ý chọn kiểu cách, mẫu mã, mầu sắc. Áo len, khăn len, mũ len được đan bằng tay khéo léo của các nghệ nhân dầy dặn được ưa chuộng.

Cự Đà – làng Việt cổ

Sau làng cổ Đường Lâm, Cự Đà là một trong những làng Việt cổ điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngành văn hoá thông tin đang có kế hoạch xếp hạng bảo tồn.

Đến Cự Đà đầu xuân Đinh Hợi, chúng tôi như được thả hồn vào một bức tranh quê nào đó của đầu thế kỷ 20. Cổng làng hình vòm cuốn, mái cong vút, hai cột bên và trên hai mặt đều đắp nổi chữ Hán thoạt trông cổng như một gác chuông chùa nào đấy. Cự Đà là một làng giáp với Hà Nội, thuộc xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.

Cái đẹp của làng là nép vào dòng sông Nhuệ quanh quanh, trước đây khi sông chưa bị ô nhiễm thì vẫn còn thấy con trẻ bơi lội tung tăng, còn đò ngang đò dọc. Cảnh trên bến dưới thuyền một thời vẫn còn lưu dấu ấn ở các bậc thềm gạch của mỗi xóm vươn ra mép nước.

Nhưng cái cổ kính của làng thì chính lại là các di tích. Đường cái làng là trục giao thông men theo bờ sông, mỗi ngõ đâm ngang lại có một cổng ngõ cũng theo mô hình cổng làng cổ kính.

Cái mô hình quy hoạch hình xương cá này điển hình cho một làng Việt cổ ven sông có hình thái kinh tế vừa nông vừa thương. Mặt tiền của làng không chỉ là cổng làng (mà làng có những 3 cổng, kể cả cổng giữa làng), lại còn là cả một dải bến sông.

Cái địa lợi trước đây của làng chính là “nhất cận thị, nhị cận giang”. Ngõ hẹp toả đi từng ngôi nhà, ngõ nào cũng hun hút sâu. Nhà cổ vẫn còn nhiều, nếu như căn cứ vào niên đại còn được khắc trên câu đầu một số nhà khung gỗ thì số nhà có tuổi từ 100 năm trở lên cũng còn hơn ba chục.

Những nhà này được lợp ngói ta. Còn số nhà tuổi 70-80 năm thì đếm không xuể. Trong lúc nhiều làng không còn bói đâu ra nhà cổ thì ở làng này vẫn còn cả một “kho”.

Người làng Cự Đà cũng bắt đầu ý thức được cái giá trị của nhà cổ từ khi thấy có các nhà khoa học Nhật Bản đến đo vẽ và láng máng hiểu được giá trị kinh tế và văn hoá cổ khi mà nơi đây được nâng cấp nay mai thành một điểm du lịch trọng điểm.

Cái cổ của làng còn ở ngôi chùa đã được xếp hạng Di tích Quốc gia. Chùa có tên là Linh Minh Tự, còn nguyên cột đá “cây hương” ghi lại năm trùng tu chùa là Chính Hoà thời Hậu Lê, 1695.

Những tưởng niên đại xây chùa và niên đại lập làng có lẽ khoảng 500-600 năm đổ lại. Nhưng phát hiện khảo cổ học ngay trong đầu xuân Đinh Hợi này đã kéo dài tuổi của làng Việt cổ Cự Đà lên đến khoảng 2000 năm.

Đó là việc đào được những viên gạch có hoa văn đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền, gạch múi bưởi được xếp từng hàng lớp khi tu sửa nền chùa đã phát hiện ra. Những viên gạch đặc trưng này của các ngôi mộ thời Bắc thuộc cách đây hai mươi thế kỷ.

Thêm nữa đầu làng còn có một gò cao tên gọi là Đống Già, được các nhà khảo cổ cho rằng đấy chính là một ngôi mộ gạch thời Bắc thuộc khá lớn. Phát hiện khảo cổ đã cho thấy làng đã được hình thành thuộc loại sớm nhất vùng và những nơi có mộ gạch như vậy thường là những trung tâm kinh tế, xã hội sầm uất một thời.

Miếu và đình làng cũng được xếp hạng Di tích Quốc gia. Đáng chú ý nơi đây còn có di tích đàn tế bằng đá xanh mà người dân vẫn gọi là đàn tế trời đất, một dạng của đàn Xã Tắc thuộc loại đẹp nhất nước.

Bên cạnh vẻ đẹp cổ, làng còn có vẻ đẹp cận đại. Đó là những ngôi nhà cổ và công trình kiến trúc được xây cất từ những năm 1920-1940 trông rất “Tây”. Ven sông còn để lại một cột cờ cao vút được xây dựng năm 1929, các di tích nhà Hội đồng, nhà Thọ từ (trường học).

Các nhà có kiến trúc theo kiểu nhà Tây giống với nhà Tây ngoài Hà Nội còn lại khoảng năm chục chiếc ở ngay trong làng. Vào thời đó, Cự Đà còn là thôn duy nhất của cả vùng có đường điện thắp sáng.

Những năm này cũng là những năm người làng kéo nhau ra Hà Nội lập xưởng, làm chủ nhà máy, chủ cửa hàng, tiệm buôn khá đông. Một loạt tên tuổi các nhà giàu Hà Nội lấy tên hiệu bắt đầu bằng chữ “Cự” như Cự Doanh, Cự Chân ngành dệt, Cự Phát… đều là người Cự Đà, chọn chữ Cự để ghi nhớ nơi chôn nhau cắt rốn.

Tầng lớp công thương ra Hà Nội cũng mang tiền về quê để xây nhà tậu ruộng. Dấu tích một thời còn để lại ở hai khối tượng cóc bằng đá xanh đặt ở bến sông, trên trụ đỡ tượng còn khắc dòng chữ Hán “Vạn cổ nghiễm nhiên” (Muôn đời trang trọng phú quý).

Trên hai khối tượng còn khoét lỗ để đèn dầu. Đó là một loại “hải đăng” để thuyền bè buôn bán trên sông Nhuệ trong những đêm tối trời định đúng hướng mà ghé vào cổng ngõ nhà ai đó.

Bên cạnh vẻ đẹp di tích vật thể, làng Cự Đà còn giữ được vẻ đẹp văn hoá phi vật thể. Người Cự Đà lập nghiệp khắp nơi và khá thành công ở Hà Nội, Hà Đông, cả ở nước ngoài. Nhiều người xa quê gốc Cự Đà lấy ngày hội làng 14 tháng Giêng là ngày kéo về làng tề tựu, dự hội, thắp hương cho tổ tiên.

Cự Đà còn là một làng nghề nổi tiếng xa gần bởi 2 đặc sản. Tương Cự Đà thuộc loại ngon nhất nước, ngày nay vẫn sản xuất cho khắp vùng và Hà Nội. Miến Cự Đà cũng là mặt hàng chủ đạo. Đến Cự Đà ngày nào cũng gặp hình ảnh miến được phơi trắng xoá ngõ xóm.

Với nhiều thế mạnh về mặt di tích, lại là một làng nghề đang ngày đêm nhộn nhịp, Cự Đà đáng để được coi là một địa điểm du lịch về một làng Việt cổ còn bảo toàn nhiều sắc thái truyền thống.

Một điểm mạnh nữa của ngôi làng về mặt du lịch là nằm quá gần Hà Nội: Cự Đà chỉ cách hồ Gươm vào khoảng 15km theo đường chim bay, đi ôtô, xe máy cũng được mà cưỡi xe đạp cũng xong.

Làm tranh từ… lông gà

Người sáng tạo nên những bức tranh… không giống ai – tranh cắt dán từ lông gà ấy là anh Đinh Ngọc Đạt, sinh năm 1960, ở số 13 Trần Quý Cáp, Hội An. Thú làm tranh từ chất liệu lông gà của Đinh Ngọc Đạt có từ những năm anh còn học phổ thông.

Làm tranh… không giống ai.

Ngày ấy, đồ lưu niệm tặng nhau hiếm lắm nên anh bèn nghĩ đến chuyện làm tặng bạn bè vài món quà nho nhỏ từ… lông gà. Rồi ý tưởng làm những bức tranh khổ to bắt đầu nảy sinh khi anh vào bộ đội và kéo dài cho tới nay.

Đã có nhiều nhà nghiên cứu nghêï thuật, họa sĩ… tìm đến xem tranh lông gà của anh. Một tạp chí của Pháp khi thực hiện chuyên trang về Hội An đã chọn tranh của anh làm ảnh bìa. Tuy vậy, tranh lông gà của nghệ nhân Đinh Ngọc Đạt sau vài lần triển lãm cách đây mươi năm (khi chưa có… dịch cúm gà) còn thì kỳ dư chưa xuất hiện trên thị trường. Lý do, mỗi tác phẩm của anh luôn là độc bản, không bức nào giống bức nào nên dù chẳng phải sống sung túc gì nhưng đó là tâm huyết, tình cảm nên “bán đi thì tiếc lắm” như lời anh Đạt tâm sự.

Chỉ mãi là tranh lông gà!

Theo Đinh Ngọc Đạt, sở dĩ anh chọn lông gà làm chất liệu cho tranh của mình bởi có một sự phù hợp thú vị với không gian nơi anh sinh sống. Lông gà có chung một gam màu trầm – tối, ít rực rỡ rất hợp với “màu phố cổ” Hội An rêu phong cổ kính. Nếu so với các chất liệu tạo hình khác, màu sắc của lông gà có độ bền gần như vĩnh viễn…

Trên căn gác chật chội, ngày ngày Đinh Ngọc Đạt miệt mài làm tranh. Sau bản phác thảo trên giấy nền, công đoạn quan trọng nhất là dán những chiếc lông gà, màu lông phải lựa chọn kỹ để bố trí theo các quy luật sáng – tối, xa – gần… để bức tranh thể hiện tối đa các hiệu ứng mà anh mong muốn. Có bức phải mất hàng tháng trời mới hoàn tất. Chủ đề trong tranh lông gà của Đinh Ngọc Đạt cũng đơn giản, bình dị về các con hẻm phố, chùa Cầu, tự họa…

Nhiều người thưởng thức tranh nghệ thuật cắt dán từ lông gà của Đinh Ngọc Đạt rất ngạc nhiên và thú vị. Những tác phẩm này khi mang trưng bày tại một vài cuộc triển lãm đã gây ấn tượng thú vị cho khách tham quan.

Chưa từng được đào tạo qua một trường lớp nghệ thuật tạo hình nào, Đinh Ngọc Đạt phải tìm đọc rất nhiều sách để tự bổ túc cho mình. Có lúc, anh nhận làm việc ở một nhà sách lớn ở Hội An để có nguồn sách đọc, tiền lương để dành mua lông gà… Gần trăm bức tranh đã được anh hoàn thành trong gia cảnh khá chật vật như thế.

“Vàng ròng” làng gốm

Với đôi tay khéo léo, tài hoa, trí tưởng tượng phong phú và đặc biệt là tình yêu, đam mê với nghề, những người thợ gốm Bát Tràng đã góp phần tạo nên một nét “ hồn Việt “ làm say đắm lòng người muôn phương.

Gửi tình yêu vào … đất

“Nghề gốm đòi hỏi sự tâm huyết và khéo tay của người thợ. Nếu không có tình yêu, đam mê thực sự với gốm thì khó có thể tạo ra được những sản phẩm đẹp “ – anh Nguyễn Xuân Hùng, một ngưòi thợ đang làm việc tại cơ sở Gốmthủ công, mỹ nghệ truyền thống Hồn Đất Việt ( Gia Lâm – Hà Nội ) tâm sự. Anh cho biết, để có một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua các công đoạn đầy vất vả: chế đất và men; tạo hình; chồng rồi đốt lò. Chế tạo men là một trong những bí quyết của nghề gốm. Từ đời này sang đời khác, những người thợ Bát Tràng đã sáng tạo ra nhiều loại men khác nhau: từ men ngọc, men gio đến men lam, men rạn … Đất làm nguyên liệu phải đúng chất, không lẫn sang sành, sứ. Công đoạn tạo hình đòi hỏi người thợ phải có óc sáng tạo, cách nhìn nhận tinh tế và đôi tay khéo léo, tài hoa. Khi đốt lò, phải tuỳ theo xương đất để làm chủ nhiệt độ.

Sinh ra và lớn lên trên “ quê gốm “ Bát Tràng, gia đình anh Trần Văn Tuấn đã 5 đời gắn bó với nghề làm gốm. Bởi vậy mà đất cao lanh, chất men cổ và những hoạ tiết gốm tinh tế đã ăn sâu vào máu thịt chàng trai trẻ. Với Tuấn, mỗi tác phẩm ra đời chứa trong nó biết bao trăn trở của người thợ gốm. “ Xác định ý tưởng, hình khối mà mình cần thực hiện là điều hết sức cần thiết trong khâu tạo hình. Một tượng gốm phải làm sao lột tả hết thần thái của nó thông qua form dáng, hoạ tiết, đặc biệt khó nhất là đôi mắt. Để đạt được điều này, đòi hỏi rất lớn ở sự tinh tế của tâmhồn và tài năng của đôi tay người thợ “, vừa đắp nặn bộ tượng Tứ linh ( Long, Li, Quy, Phượng ), anh Tuấn vừa trò chuyện.

Hiện nay, nghề gốm Bát Tràng không chỉ thu hút con em trong làng và các vùng lân cận, mà còn kéo được nhiều người thợ trẻ từ các tỉnh xa về miền đất bên sông Hồng này “sống chết” với … gốm. Chị Thoa quê Hải phòng, đến Bát Tràng và gắn bó với nghề gốm gần 10 năm nay. Cũng có thời gian trước đây, chị quyết tâm “ dứt áo” làng gốm về đất cảng làm công nhân cho gần bố mẹ. Nhưng tình yêu với đất, với gốm Bát Tràng đã kéo chị quay lại. “ Đất tạo ra sự bền chắc cho xương thịt gốm; men tạo màu sắc sáng bóng, rực rỡ và cả huyền bí của da gốm; nước và đất tạo dáng gốm; lửa quyết định phẩm chất và sắc thái gốm “- chị Thoa nói với con mắt của một người làm nghề lâu năm. Nhưng với chị, “ quan trọng nhất vẫn là cái tâm của người làm gốm. Mỗi sản phẩm làm ra là cả tấm lòng và tâm huyết những người thợ gốm gửi gắm trong đó”.

Biến đất thành vàng

Chợ gốm Bát Tràng trở thành điểm du lịch hấp dẫn bên bờ sông Hồng. Khách du lịch trong và ngoài nước đến Bát Tràng tham quan, mua sắm ngày càng đông. Gốm Bát Tràng trở thành thương hiệu. “Hôm đầu chợ gốm mở, thấy đoàn khách du lịch Pháp trầm trồ, ngẩn ngơ trước chiếc bình cổ màu xanh ngọc, mình vui lắm. Thực ra, lúc đó còn mơ hồ về khái niệm “ thương hiệu “ lắm, chỉ biết rằng, thế là từ nay, những đứa “ con đẻ “ của bọn mình sẽ được biết đến nhiều hơn thôi”- anh Quang, một thợ gốm kể lại. Bằng bàn tay, khối óc… những người thợ trẻ Bát Tràng đã tạo nên trăm ngàn kiểu dáng, sắc màu gốm khác nhau, đưa sản phẩm gốm truyền thống vượt biên giới Việt Nam đế với bạn bè quốc tế.

Vợ chồng anh Thắng – chị Thịnh, chủ cơ sở sản xuất Hồn Đất Việt gắn với nghề làm gốm từ nhỏ. Vào thời điểm khó khăn nhất, chị Thịnh đã phải từ bỏ ước mơ làm cô giáo để cùng chồng vực dậy nghề gốm “ gia truyền “của làng cổ Bát Tràng. Hiện nay, dù đã trở thành chủ của một xưởng gốm lớn, có tổng vốn lên đến hàng tỉ đồng, anh chị vẫn xắn tay miệt mài chế đất, tạo hình bằng bàn xoay, đốt lò… như một người thợ thực sự. Với họ, nghề gốm đã trở thành máu thịt rồi.

Về Bát Tràng hôm nay, những ngôi nhà cao tầng, những cơ sở sản xuất gốm truyền thống mọc lên ngày càng nhiều hơn. Thu nhập của thợ gốm cũng cao hơn. Mức lương trung bình của họ khoảng từ 1,5 – 3,5 triệu/ tháng tuỳ theo công đoạn sản xuất và tay nghề. Dẫn chúng tôi đi xem các xưởng gốm và lớp học mĩ thuật của làng, anh Thắng tự hào: “ Gốm Bát Tràng hiện nay là sự kết hợp của truyền thống và hiện đại. Chất đất, men và hoa văn cổ vốn có của cha ông đã được người thợ phối hợp khéo léo với các yếu tố ánh sáng, màu sắc, cấp độ của mĩ thuật hiện đại một cách tinh tế “. Nhìn ánh mắt chăm chú, nắn nót từng nét hoạ tiết gốmcủa các cô bé, cậu bé làng cổ, tôi biết đó mới chính là thứ vàng ròng của đất gốm Bát Tràng.

Hàng Lược- phố “chợ hoa”

Phố Hàng Lược nguyên là đất thôn Phủ Từ và thôn Vĩnh Trù, Tổng Hậu Phúc, huyện Thọ Xương. Từ thời nhà Lê, nơi đây tập trung nhiều nhà sản xuất lược chải đầu nên có tên phố Hàng Lược. Đến đầu thế kỷ XX, không còn ai bán lược nữa, nên phố có tên Cống Chéo – Hàng Lược (ở giữa phố có một cái cống bắc chéo qua sông Tô Lịch).

Sau ngày giải phóng Thủ đô 10/1954, phố trở lại tên cũ Hàng Lược, có chiềudài 264m, từ ngã ba Hàng Cót đến ngã năm Hàng Mã. Phố vẫn còn 2 ngôi đình: Đình Phủ Từ ở số 19 và đình Vĩnh Trù số 59, đều thờ “Tứ vị Hồng Nương”. Tương truyền, vào thời nhà Trần, bà con dân chài ở cửa bể Càn Hải (Nghệ An), vớt được 4 xác phụ nữ, đem chôn cất và lập đền thờ. Về sau dân thuyền mành xứ Nghệ ngược xuôi buôn bán trên sông biển thờ “Tứ Vị” trên thuyền để cầu yên sóng gió. Ở Hà Nội, dọc sông Tô, sông Hồng cũng có tới mười ngôi đền thờ như vậy.

Từ những năm 20 thế kỷ trước, phố Hàng Lược có một mặt hàng chỉ bán vào dịp Tết: Hàng Hoa. Bắt đầu từ 23 tháng Chạp, Tết ông Công, cho tới tận chiều tối 30 Tết, chợ Hoa họp dọc phố, có người gọi là “phố chợ hoa”.

Người Hà Nội có thói quen, dù bận trăm công nghìn việc, ngày áp Tết vẫn rủ nhau “chơi chợ hoa”. Đặc biệt là trai thanh gái lịch. Ngày nay chợ hoa Hàng Lược bán quanh năm. Đủ các loại hoa. Trên trời, dưới hoa. Hoa thật, hoa giấy, hoa lụa, hoa nhựa v.v… không thiếu. Đặc biệt là hoa tươi, mới, la liệt khắp phố. Chủ cửa hàng là các cô cậu sinh viên năng động, vừa đi học, vừa đi làm “lấy ngắn, nuôi dài”. Họ “lập nghiệp” bắt đầu từ nghề “làm đẹp cho đời”. Qua bàn tay các “nghệ nhân” trẻ, hoa được “tạo dáng” “bắt mắt” bởi sự kết hợp hài hòa giữa hoa Hà Nội, hoa Đà Lạt, hoa nhập khẩu từ Hà Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… Ngay chỗ cống chéo Hàng Lược, vài năm trở lại đây xuất hiện loại hoa… giấy nhiều mầu sắc, tạo một diện mạo mới đa dạng của chợ hoa Hàng Lược.

Phố Hàng Lược cổ mà lại mới. Hàng Lược đang tự làm mới mình để hòa nhập vào xu thế chung của thời đại. Nhà thờ Hồi giáo Ấn Độ được “tân trang” đẹp, tôn nghiêm, địa chỉ cho khách nước ngoài theo đạo Hồi đến Việt Nam công tác, học tập, du lịch làm lễ vào ngày Chúa nhật. Nhà hàng thịt chó “Cống chéo Hàng Lược” nổi tiếng từ trước, nay mang tên mới “Thịt chó gia truyền Quê Hương” khang trang hơn nhiều. Cả phố duy nhất chỉ có Trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm là cơ quan. Còn lại là siêu thị, khách sạn, nhà hàng. Bên số chẵn, đầu phố là cửa hàng bánh ngọt Hồng Kông chẳng bao giờ vắng khách. Siêu thị NEM NEW chiếm già nửa phố, cùng Hạ Long Hotel, Hà Nội Kangaru, làm cho Hàng Lược có dáng dấp một phố hiện đại thời mở cửa.

Bà con tiểu thương phố Hàng Lược mở cả một trạm bảo dưỡng xe máy đồ sộ ở đầu phố bên dãy số lẻ, doanh thu mỗi ngày hàng trăm triệu đồng. Tuy nhiên, trên phố có người trường vốn làm ăn lớn, có người ít vốn thì buôn bán “cò con”, làm cho bức tranh thị trường ở Hàng Lược “đa sắc màu”.

Vài năm trở lại đây, nhất là ngày đông giá lạnh, phố có thêm dãy hàng bán hạt dẻ, bánh trôi Tàu, khách hàng là các cô cậu học trò, “chị lao công đêm đông quét rác”, bà con lao động… chỉ cần vài ngàn đồng cũng đủ “ấm bụng”, sau một ngày lao động, học tập vất vả.

Hàng Bạc rêu phong

Tên Hàng Bạc được nhắc ngay đến từ đầu trong ca dao về 36 phố phường Hà Nội. Nói Hàng Bạc là quan trọng nhất thì không đúng, nhưng chọn tuyến phố này cho một ví dụ về phố cổ Hà Nội thì không sai.

Phố Hàng Bạc thuộc phường Hàng Bạc ngày nay nằm trong khu bảo vệ tôn tạo cấp 1. Đặc trưng của nó là vẫn còn giữ được nguyên chiếc áo kiến trúc đặc trưng. Những ngôi nhà mặt phố nhỏ bé với mái ngói nhấp nhô liền kề. Những ngôi nhà dân thương có sân chung, lô nhô tiếp nhau từ dãy phố này sang phố khác.

Diện mạo phố Phái có thể hình dung thực sự trên tuyến Hàng Bạc- nằm vắt ngang như cửa ngõ chính từ sông Hồng vào khi thông thương Hàng Ngang – Hàng Đào – Đồng Xuân… Theo các tài liệu thì phố được hình thành từ thế kỷ thứ 8, trở nên tấp nập bán buôn vì đây là khu sinh sống của thợ kim hoàn.

Hàng Bạc thành tên phố bởi nó tập trung 3 nghề thị dân chính là: kim hoàn, đổi tiền và đúc bạc nén. Ngay cả người Pháp khi gọi tên cũng đặt là Rue des Changeurs… Tuy sau khi kinh đô được dời vào Huế, nghề truyền thống con phố cũng đi theo nhưng tồn tại đặc trưng trên phố Hàng Bạc ngày nay vẫn là các cửa tiệm kim hoàn…

Thủ đô cũng vẫn còn một con phố hành nghề đúng với cái tên của nó. Dấu vết ngày nay vẫn còn là 2 ngôi đình thờ tổ nghề ở số nhà 42, 50…

Ba năm trước, ngôi nhà số 51 Hàng Bạc được chọn làm thí điểm để thành phố cải tạo lại kiến trúc nhà dân sinh trong khu bảo tồn. Trước đó lâu hơn, dân phố cổ tuyến Hàng Bạc sống khá chật chội và phải đối diện trực tiếp với sự xuống cấp của không gian và điều kiện sống.

Hà Thành đối diện với một áp lực khiếp đảm về đô thị hoá, khóm phố hoài niệm thi hoạ này luôn bị rình rập bởi cả thời gian, thời tiết lẫn thời thế… Nhưng cũng không thể không bảo vệ và lưu giữ chút cuối cùng còn lại được.

Nếu rẽ phải Hàng Bạc từ Mã Mây cũng có thể thấy, ngay cả vỉa hè thành phố cũng không thể vạt được một ngôi nhà cổ chòi hẳn lên so với mặt tiền. Dù đó cũng chỉ là dấu vết của một cửa tiệm buôn bán nhỏ đơn sơ thôi, nhưng xem ra chẳng ông kiến trúc sư nào muốn làm đẹp cái vỉa hè mà cắt cụt nó được…

Cũng những lúc chiều rơi như thế, nhìn những góc quạnh của Hàng Bạc cũng thấy vẩn vơ. Phố nhiều người đi bộ, đôi khi cửa hàng cũng chẳng tấp nập gì cho lắm, đôi ba tiệm bán tour du lịch, bưu thiếp và hàng lưu niệm… Rũ mắt mới nhận ra, phải vài năm nay rồi, phố này đã biến thành phố Tây. Không phải phố dành cho Tây ở thoải mái, mà là phố để Tây ngắm, Tây trầm trồ. Âu cũng bình an cho thời hội nhập mở cửa.

Nhạc sĩ Nguyễn Cường, người con của phố Hàng Bạc chính gốc kể, ông yêu con phố mình ở từ thủa chân trần đuổi ve hái sấu. Ông không ngủ được nếu thiếu thanh âm vọng về từ dưới con đường. Tinh sương chạy bộ từ nhà ra hồ Gươm hóng gió, mịt chiều theo dòng người để về nhà…

Căn gác của ông cheo leo như chuồng chim câu trên tầng 3 ngôi nhà cổ. Hàng chục con người chung từ cái đèn bóng đỏ, chung lối cầu thang có thể đếm bước chân là về đến nhà… Thân quen và bình an.

Người phố cổ sinh ra từ phố cổ, sự rêu phong và nhỏ bé lan vào trong lối sống đã thành quen. Ông chẳng có nhu cầu rời xa nhà phố để ở điền viên rộng rãi. Ông phong trần là thế, muốn bay nhảy thì bốc mũ tôi đi. Nhưng đi để trở về, về ngồi thiền trong sân thượng, xung quanh là hồn thu thảo bốn mùa. Để rồi mới có “Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội” là vì thế.

Tràng Thi ngày và đêm

Tĩnh mịch và sôi động; lịch sử, tri thức và những cuộc vui chơi đầy tính tận hưởng; những hàng sấu già xưa cũ hay những shop thời trang tân thời… Tất cả những đối lập ấy của đời sống đều hội lại trong phố. Phố Tràng Thi – con phố mà diện mạo luôn thay đổi, khác biệt đến bất ngờ giữa ngày và đêm.

Cũng thức dậy thật sớm như bao con phố khác ở Hà Nội, thế nhưng, hãy cứ tạm lấy con số 8h (giờ mở cửa Thư viện Quốc gia) làm thời điểm bắt đầu một ngày mới của phố Tràng Thi. Thư viện Quốc gia toạ lạc ở số 31 trên phố. Theo tài liệu cũ ghi lại thì tiền thân là Thư viện Trung ương của Đông Dương, bắt đầu mở cửa vào thời thuộc Pháp (năm 1919).

Cũng theo sách xưa, ngay trên địa phận của Thư viện dưới triều nhà Nguyễn là trường thi hương không chỉ của các sĩ tử đất kinh kỳ mà còn của nhiều tỉnh thành khác nữa (Bắc Ninh, Cao Bằng, Hưng Yên…). Cái tên Tràng Thi (tức trường thi hương) nhờ đó mà được khai sinh.

Phố Tràng Thi đã qua 4 lần thay tên: Thời Pháp có tên là Booc-nhi Đê-booc-đơ (Rue Borgnis Desborder). Sau 1945 đổi tên thành Tràng Thi. Thời thực dân Pháp tạm chiếm đổi là Mỹ Quốc. Sau 1954, ta khôi phục lại tên Tràng Thi

Đến năm 1957, Thư viện Đông Dương được tu bổ nâng cấp và đổi tên là Thư viện Quốc gia. Đã có hàng trăm thế hệ học sinh, sinh viên và những người yêu sách tìm đến với thư viện để đọc và làm giàu vốn tri thức của mình.

Cũng vào thời khắc của ngày, cùng với hoạt động của Thư viện Quốc gia, những shop thời trang, những cửa hàng thương mại, những công ty kinh doanh hàng điện tử, điện máy, dịch vụ du lịch trên phố luôn sôi động. Họ đua nhau làm giàu cho mình, cho sự sầm uất, phát triển của tuyến phố. Họ kết thúc một ngày làm việc vào khoảng 20-21h. Đây cũng là giờ khép lại một ngày mở cửa của Thư viện Quốc gia.

Nếu như, điểm nhấn của ngày là Thư viện Quốc gia thì “đặc sản” đêm của phố lại thuộc về vũ trường New Century (số 10) với những cuộc chơi sôi động, tận hưởng của giới trẻ mê ca nhạc, khiêu vũ, điện thoại di động, bia và rượu mạnh. Nhất là nhóm dân chơi, dân sành điệu tuần nào cũng đến “họp” từ tối muộn đến 2-3h sáng mới chịu “go home”.

Nếu bạn là fan của các sao ca nhạc Mỹ Tâm, Phương Thanh, Lam Trường, Đàm Vĩnh Hưng, Đan Trường… thì New Century là địa chỉ hay ho để thưởng thức.

Còn với rất nhiều người thuộc thế hệ 6X, 7X trở về trước nữa, lại yêu và nhớ về phố Tràng Thi về Hà Nội theo cách riêng của mình – như trong một tứ thơ của Lê Giang: Hà Nội mùa này sấu chín chưa em / Hàng me Sài Gòn đang vào mùa thay lá / Thoang thoảng vị chua khiến lòng anh nhớ quá / Nhớ mùa sấu rụng phố Tràng Thi.

Ấn tượng Tràng Thi

Đã có một thời, con phố này có tên là Boóc-nhi Đê-boóc-đơ (Rue Borgnis Desbordes). Sau Cách mạng tháng Tám, ta đã gắn cho nó một cái tên rất mới-phố Tràng Thi. Thời tạm chiếm, bọn bù nhìn lại đổi thành phố Mỹ Quốc nhưng ngay sau khi ngày giải phóng Thủ đô, ta xoá bỏ tên ấy và khôi phục lại tên cũ Tràng Thi.

Phố Tràng Thi có chiều dài 860 mét, từng được biết đến là một trong những truyến phố trung tâm của thủ đô Hà Nội. Phố Tràng Thi nguyên là đất thôn Vũ Thạch, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Để tản bộ hay thăm phố, chúng ta có thể lựa đường từ ngã tư phố Bà Triệu xuôi đến phố Cửa Nam.

Vì sao phố lại có cái tên Tràng Thi?. Sở dĩ vậy là vì dưới triều Nguyễn, ở quãng giữa của phố, khoảng thư viện Quốc gia, Cục Lưu trữ và Bộ Công nghiệp ngày nay chính là tràng (trường) thi hương. Tìm hiểu mới hay, trường thi hương là nơi đua tài không chỉ của sĩ tử Hà Nội mà còn của nhiều tỉnh thành khác như Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang… Năm 1882 Pháp bãi bỏ trường thi và bắt các sĩ tử phải tập trung thi ở Nam Định.

Năm 1919 tại đây một thư viện gọi là Thư viện Trung ương của Đông Dương, bắt đầu mở cửa. Sau ngày Giải phóng Thủ đô, thư viện được tu bổ, nâng cấp và được chính thức mang tên là Thư viện Quốc gia Việt Nam vào ngày 26/6/1957. Thư viện Quốc gia bây giờ chính là điểm đến lý tưởng, hấp dẫn, lý thú bởi đó là kho tàng kiến thức phong phú, đa dạng cho rất nhiều người, nhiều thế hệ, đặc biệt là các bạn học sinh, sinh viên.

Ngoài Thư viện ra, phố Tràng Thi còn có một số cơ quan, bệnh viện… xây dựng trên di chỉ những di tích xưa như bệnh viện Việt-Đức vốn được xây trên một phần đất thuộc khu vực đất phủ Kinh sư đại doãn gọi tắt là Phủ Doãn.

Thông thoáng, mát mẻ với những hàng cây cổ thụ, Tràng Thi cũng khá sầm uất nhưng rất văn minh, đó chính là cảm nhận chung của những ai từng đặt chân đến tuyến phố thương mại này dù chỉ một lần. Và, đặc biệt, trong những ngày này, khi Việt Nam vừa gia nhập WTO cũng như đang tổ chức sự kiện trọng đại Hội nghị cấp cao APEC, chúng ta sẽ được tận mắt chứng kiến sự rực rỡ của phố với tràn ngập ánh đèn, cờ hoa biểu ngữ và lẫn vào đó là niềm tự hào của mỗi người dân Việt.

Sự thăng hoa của Tràng Thi bây giờ không thể thiếu vắng vai trò của thương nhân trên phố. Các cửa hàng, cửa hiệu bao năm nay vẫn đua nhau làm giàu cho mình, cho tuyến phố và hơn thế là góp phần xây dựng cho sự phồn vinh Thủ đô. Nào là công ty TNHH máy ảnh 13, Viettronic 39, Cty du lịch Tràng Thi 12, rồi Cty thiết bị giám sát an ninh Côlôm số 4. Đặc biệt, một siêu thị điện máy khá quy mô , hiện đại vừa khánh thành ở số 10B, là điểm đến uy tín của người tiêu dùng. Hay, ảnh Viện áo cưới Phượng Anh, số 15, lại là thiên đường sắc đẹp của hàng trăm cô dâu chú rễ trong ngày cưới.

Đến phố, các bạn trẻ tha hồ tìm mua cho mình những bộ trang phục ấn tượng, bởi ở đây không thiếu gì các cửa hiệu thời trang như shop Yến Trang số 71, quần áo thể thao 12… Độc đáo nhất vẫn là mốt thời trang Bôhêmiêng số 37 đang mê hoặc các bạn trẻ. Và, một điểm đến lý thú cho các bạn trẻ mà chúng ta không thể quên được, đó là quán bar Newcentury số 10. Chúng ta sẽ được tận hưởng không khí vui nhộn để giảm bớt những căng thẳng sau ngày làm việc mệt mõi. Được thưởng thức những giọng ca vàng Việt Nam. Và, có một nơi, hàng ngày chúng ta được chứng kiến nườm nượp người ra vào, ơ đó là trụ sở của Hãng hàng không VietNam Airlines, toạ lạc

Hàng Cân – Bốn mùa năng động

Hàng Cân cùng với Hàng Bồ là đất của thôn Xuân Yên cũ, thuộc tổng Thuận Mỹ. Hàng Cân là tên mới xuất hiện cuối thế kỷ XIX. Trước đó, đoạn phía Bắc phố này gọi là Hàng Sơn dưới, quãng phố Chả Cá hiện nay thuộc phía Nam có tên là Hàng Sơn trên.

Khi còn sông Tô Lịch, thuyền chở sơn từ Phú Thọ về Hà Nội, thường ghé ở khúc này “đổ hàng” cho các nhà bên sông. Lúc sông Tô Lịch lấp, thuyền buôn sơn ghé vào Lò Sũ, sơn bán nhiều ở Cầu Gỗ, Hàng Bè, Hàng Dầu. Hàng Sơn dưới không còn buôn sơn nữa, xuất hiện một mặt hàng mới, sản xuất cân các loại, nên có tên mới: Hàng Cân. Ông Tổ nghề làm cân ở phố này là Lý Vũ, người thôn Nguồn, xã La, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh. Ông học nghề làm cân của người Hoa kiều, rồi truyền nghề cho bà con trong phố. Nghề sản xuất, buôn bán cân mở rộng.

Cân có nhiều loại: Cân tiểu ly dùng để cân vàng, bạc, thuốc bắc, loại cân này có hộp gỗ bảo vệ bên ngoài. Cân cán gỗ có đóng đinh đồng để cân hàng khô, gọi là cân tạ, mỗi cân chỉ bằng 0,006kg. Vào những năm 40 của thế kỷ XX các loại cân cán sắt, cán treo, cân đĩa, cân bàn ngoại tràn vào làm cho nghề làm cân ta bị mai một. Phố Hàng Cân chỉ còn tên, không còn cửa hàng nào sản xuất và bán cân.

Từ thời bao cấp giấy vụn “có giá”. Phố Hàng Cân xuất hiện nhiều cửa hàng thu mua giấy vụn, giấy mua về được phân loại, loại nhỏ bán cho các cửa hàng xôi, lạc rang, ô mai… làm giấy gói hàng, loại lớn hơn bán cho mấy “chú hoa nan” nhuộm phẩm màu xanh đỏ tím vàng làm hàng mã, loại “khổ to” được dán thành “bao bì”. Từ bao bì giấy đến bao bì các tông, xốp đủ kích cỡ để đóng kiện hàng vô cùng tiện lợi, vừa đẹp, lại bảo vệ hàng họ, vận chuyển thuận lợi. “Bao bì Hàng Cân” trở thành thương hiệu có uy tín.

Phố Hàng Cân nhỏ, hẹp, bị coi là phố “xép”. Các phố xung quanh có nhiều thay đổi theo thời cuộc. Hàng Cân vẫn giữ nét cổ xưa, nhà nhỏ, một tầng, nên có gác cũng làm kiểu “chồng diêm”. Mặt tiền “lô xô” nhiều nhà thò ra thụt vào, vỉa hè sát cửa nhà. Có đoạn phố không có vỉa hè.

Hàng Cân thời “mở cửa” tự chọn cho mình một hướng đi mới. Một nhà thơ dân gian hiện đại đã viết:

Phố xưa tên gọi Hàng Cân

Ngày nay sầm uất muôn phần đổi thay

Hàng hóa phong phú chất đầy

Kẻ mua người bán, tối ngày đông vui.

Phố Hàng Cân ngày nay chỉ là một con phố ngắn, song có đủ các mặt hàng phục vụ cho “khách phương xa đến lạ lùng tìm xem”. Mặt tiền được tận dụng triệt để, trước cửa đền Xuân Yên linh thiêng, tại số 44 xây từ đời nhà Lê, thờ Ðức Thánh Lân Ngọc, có cửa hàng mang tên LOAN bày bán la liệt mặt hàng thờ cúng: Cờ, phướn, tượng phật, lư hương, bát nhang. Giữa phố bên số chẵn là cửa hiệu thuốc bắc Hồng Hưng rất có uy tín. Cạnh đó là khách sạn mini VENUS, Hà Nội Hotel giá rẻ, nằm ở trung tâm phố cổ, gần hồ Hoàn Kiếm, địa chỉ quen thuộc của cánh du khách Tây “ba lô”. Ðầu phố có tiệm chè Bốn mùa nho nhỏ bán các loại chè, bánh trôi chay. Những “thượng đế” đại gia mê nhà hàng cà phê cao cấp bên số lẻ yên tĩnh, mộng mơ. Các doanh nhân nhâm nhi ly cà phê Trung Nguyên “số 8″. Cũng bên số lẻ cửa hàng có cái tên dễ nhớ HẬU chuyên doanh đồ mỹ phẩm, trang thiết bị cắt tóc: Ghế, máy sấy uốn tóc, tông đơ, dao, kéo, thuốc nhuộm tóc, móng chân, móng tay, chủ yếu bán buôn cho các đại lý tỉnh ngoài về “bỏ mối”.

Hàng Cân còn có “đặc sản” riêng, đó là nhiều cửa hàng văn phòng phẩm phục vụ thầy, trò quanh năm, gồm đủ các loại đồ dùng giảng dạy, học tập giá cả hợp lý. Mách nhỏ quý khách nào “nhớ ai như nhớ thuốc lào”, xin mời đến hiệu Thiên Tân, có thuốc lào Tiên Lãng, cùng chiếc điếu cầy “lên nước” bóng láng, rít một điếu dài cứ gọi là nghiêng ngả.

Từ Thợ Khảm đến phố Hàng Khay

Ðoạn phố từ ngã tư Hàng Bài – Tràng Tiền đến ngã tư Bà Triệu – Tràng Thi dài chỉ khoảng hơn 100m trước đây được gọi là phố Thợ Khảm, nguyên là đất của thôn Thi Vật, Tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương. Bà con ở đây có gốc gác từ huyện Chương Mỹ, Hà Tây, nơi nổi tiếng làm hàng mỹ nghệ, ngọc trai tinh xảo.

Từ sau ngày Thủ đô giải phóng, tháng 10-1954, phố mang tên mới: phố Hàng Khay. Phố có đặc điểm, chỉ có một dãy nhà bên số lẻ nằm phía nam hồ Hoàn Kiếm. Ở trung tâm Thủ đô, phố Hàng Khay trở thành “chứng nhân lịch sử”: Tháng 10 – 1954 “khi đoàn quân tiến về”, từ chiến khu, diễu hành qua Hàng Khay tỏa đi tiếp quản Tòa thị chính Thành phố, Bệnh viện Ðồn Thủy, trại Bảo an binh…Các đoàn đại biểu cấp cao, nguyên thủ quốc gia nhiều nước đến thăm Việt Nam đều qua Hàng Khay để về Nhà khách Chính phủ, khách sạn Metropole, dự mít tinh tại Nhà hát lớn… Phố có tòa nhà năm tầng Hà Nội Tourist, niềm tự hào của kiến trúc Hà Nội “Thời xa vắng”. Ðứng trên sân thượng ta có thể thu vào ống kính toàn cảnh của Hồ Gươm đủ mọi góc độ.

Dưới con mắt và cái đầu biết “tính toán làm ăn” của các nhà doanh nghiệp nhạy bén, một loạt hiệu ảnh lớn ra đời. Ðến thăm Hồ Gươm, Ðền Ngọc Sơn, Tháp Rùa du khách muốn có bức ảnh kỷ niệm nhớ đời, xin mời vào các cửa hiệu đầy uy tín này “chụp lấy ngay”, chắc chắn quý khách sẽ hài lòng. Cửa hàng ảnh đầu tiên ở phố Hàng Khay là hiệu “Quốc tế. Ông chủ là nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Xuân Thúy từng được vinh dự chụp một số bức ảnh Bác Hồ với Thủ đô Hà Nội. Ngoài chụp ảnh, quay phim, các cửa hàng còn bán máy ảnh, mọi phụ kiện phục vụ cho nghề chụp ảnh.

Hiệu thuốc số 2 của Công ty Cổ phần dược phẩm Hà Nội, cùng tuổi với Bách hóa Tổng hợp, có mặt từ thời “bao cấp” nhưng luôn biết đổi mới để làm “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”. Mua thuốc ở đây, quý khách yên tâm sẽ không bị “ăn quả lừa”, “nhập” phải thuốc “rởm”. Cạnh đó, hiệu “phở 24″ mới khai sinh làm cho Hàng Khay tinh mơ đã nhộn nhịp, khách tấp nập. Cuối phố, hai cửa hiệu đồng hồ “hoành tráng”, “tân kỳ”: New Watch và Toch Land giá cả từ thấp đến cao. Nhiều nhất vẫn là các cửa hàng phát huy nghề truyền thống “gỗ khảm trai” được bày bán trong các Gallry: mỹ nghệ Hoàng Anh, Collcetion Shop, Moon Shop, Dịch vụ du lịch Hà Nội. Mẫu mã phong phú: Chân dung thiếu nữ, phong cảnh Văn Miếu, Khuê Văn Các, Chùa Một Cột, Cánh đồng quê lúa chín vàng, Nụ cười của lão nông say sưa nhả khói thuốc lào, Tít xa một đàn cò trắng “bay lả bay la”. Cả chú “Tễu” đang tươi cười mua vui cùng “Thằng Bờm có cái quạt mo”.

Phố Hàng Khay thời “Hậu APEC” đang cùng Thủ đô và cả nước vững bước hội nhập sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Phố Hàng Cá không còn bán cá

Con sông Tô, bắt nguồn từ bến chợ Gạo, chảy qua Nguyễn Siêu, ngõ Gạch, Cầu Đông, Hàng Cá, xuôi xuống cống chéo Hàng Lược. Thời đó có trại Tiên Ngư trên bờ sông Tô, một bên là phường Đông Hà, một bên là phường Vĩnh Thái. Người dân trại Tiên Ngư làm nghề đánh cá. Trại Tiên Ngư sau đổi tên là thôn Đông Thuận.

Đông Thuận có đình ngói ở 27 Hàng Cá, tên dân gian gọi là Đình Hàng Cá thờ ông Lý Tiến, một vị tướng thời Hùng Vương, có công đánh giặc.

Phố Hàng Cá dài 120m, từ Hàng Đường đến phố Thuốc Bắc cắt ngay phố Chả Cá. Trước 1975 phố Hàng Cá cũng nhiều “phố nhỏ, ngõ nhỏ” không có vị trí buôn bán, sản xuất hàng tiêu dùng. Cả phố Hàng Cá chỉ có một cửa hàng bán hương nén. Nhà cửa ở phố dành cho cánh công chức “sáng vác ô đi tối vác về” đi làm tong công sở hoặc các thương nhân buôn bán ở chợ Đồng Xuân. Bảy giờ tối phố Hàng Cá “vắng như chùa Bà Đanh”.

“Thời mở cửa”, phố Hàng Cá như bừng giấc ngủ, trở thành con phố buôn bán sầm uất, đủ mọi mặt hàng, khách hàng qua lại tấp lập từ sáng sớm cho tới đêm khuya.

Hàng Cá chẳng có cửa hàng nào bán cá. Nhiều nhất là các cửa hàng mỹ phẩm, xà phòng ômô cao cấp rất sang trọng. Bán mỹ phẩm – làm đẹp đầu tiên ở phố Hàng Cá, phải kể đến ông Núi ở số 6 là người “khai sơn phá thạch”, ông “đánh” hàng từ trong Nam ra và Trung Quốc về. Khách đến “bỏ mối” từ “tổng đại lý” nhà ông, đem về các tỉnh xa bán lẻ cho bà con. “Hậu sinh khả uý”, thế hệ trẻ ngày nay nhiều người làm ăn lớn hơn ông nhiều bạo tay “làm ăn lớn”, họ “vượt” ông “buôn gốc bán ngọn”.

Phố Hàng Cá, phần áp với phố Thuốc Bắc, Lò Rèn biết “ăn theo” bằng các mặt hàng kim khí hóa chất, đồ điện dân dụng, dây thép, cuốc xẻng, đinh, búa, sơn. Các cửa hàng khóa nội chất lượng cao, tiêu biểu là công ty Huy Hoàng, do thợ Việt Nam thết kế, sản xuất. Nhiều mẫu mã tốt, rẻ, vừa túi tiền, bà con lao động, đặc biệt là nông dân rất ưa chuộng. Cửa hàng của công ty xuất nhập khẩu tổng hợp bán đủ các loại quần áo trẻ em, người lớn, đồ lót, giầy dép¦ khách hàng đã vào, khi ra không thể không mua cho mình một thứ hàng nào đó vì¦ giá rẻ bất ngờ.

Phố Hàng Cá có cửa hiệu cà phê “nhĩ” xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ trước. Cửa hiệu cà phê “Nhĩ” chẳng giống ai: Không bán kèm thuốc lá, cũng chẳng có đèn mầu “khi tỏ khi mờ”, không nhạc xập xình. Bàn ghế đơn giản. Nhân viên phục vụ là con cháu trong nhà…

Nhưng cà phê “Nhĩ” có khách riêng “chung thân” suốt đời. Bà con phố cổ, bà con tiểu thương các chợ Đồng Xuân, Hàng Da, sau khi ăn sáng, bắt đầu một ngày lao động đều “ghé” cà phê “Nhĩ” thưởng thức một tách “đen” hoặc “đá” râm ran trò chuyện đông chật cửa hàng.

Người khôi phục 21 loại lụa Hà Đông

Ông Mão ngồi lặng yên, thảnh thơi như sợi tơ đang trải dài trước mặt. Ông chẳng phải nghỉ ngơi mà chờ¦ rình cái giây phút quyết định để những sợi tơ vô tri kia lên tiếng và đôi tay thô ráp sẽ khéo léo quyện chúng vào nhau¦ Những loại lụa vân, những dáng hoa văn cổ được phục hồi. Ở chúng đã thấm đẫm những giọt mồ hôi và cả tâm huyết mấy chục năm của ông.

Nghề dệt… hồi sinh

Đã đành một nhẽ rằng tơ là sản vật độc đáo, bí ẩn mà tạo hóa ban cho nhưng để chúng trở nên có hồn một cách lung linh như thế thì lại phải trải qua một quá trình khác. Mà ông Mão là người ở trong quá trình đó.

Trời mưa phùn rả rích, tôi thích nhìn nghệ nhân già trong cái độ thời tiết như thế này. Ông Lão ngoài thất thập, mắt long nhãn, đôi tay thô ráp luôn đan lại khi nói chuyện. Ông là người đã phục chế rất nhiều loại lụa quý hiếm của làng Vạn Phúc (thị xã Hà Đông).

Cuộc nói chuyện của tôi với người chủ nhà mến khách cứ dài mãi¦ Từ khi lên 7, cậu bé Mão đã được cha mẹ cho học xe tơ dệt lụa theo cách cha truyền con nối. Lớn lên ông làm cán bộ ngành kim khí rồi đi bộ đội…Những đêm ở chiến trường Trị Thiên ác liệt, tiếng thoi đưa lách cách và những tấm lụa vân óng ả trong nắng ấm vẫn luôn ám ảnh chàng trai xứ lụa.

Chiến tranh kết thúc, chế độ bao cấp coi hàng tơ lụa là xa xỉ đã làm cho nghề dệt lụa kém phát triển. Trở về làng làm cán bộ xã, thấy bà con phải phá khung dệt đi để dệt thảm đay, thảm len xuất khẩu sang Liên Xô, Đông Âu. Đến khi không còn hợp tác xã, hết thị trường, người làng lụa ngơ ngác, canh cửi bỏ không, người đi buôn, kẻ làm ruộng, tưởng như mất nghề. Ông xót xa, đi từng nhà, tìm từng mảnh lụa chờ cơ hội dựng lại máy dệt cổ. Ai có mẫu sản phẩm cổ là xin sao chép lại. Rồi cơ chế thị trường đến, người làng lụa mới như sống lại và nghề dệt hồi sinh.

Người khôi phục 21 loại lụa Hà Đông

Nói đến lụa Hà Đông thì phải nói đến lụa vân, thứ lụa mịn mặt mát tay. Vân nghĩa là mây; có mây trên lụa. Nhìn lụa như thấy có mây là thứ lụa mượt mà, mà lại nổi vân là khó lắm! Thế nên tuy giá cao nhưng vẫn thu hút được nhiều khách hàng vì sự độc đáo và thương hiệu của nó trong quá khứ: “The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng – Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn”.

Dạo tôi gặp ông, ấy là thời điểm Festival Huế 2000, lúc đó tên tuổi ông như sóng cồn, người ta đánh giá ông rất cao. Nhưng ôngbảo: Có hay không vẫn chỉ thế thôi bởi khát vọng lớn nhất của tôi là làm sống lại những kỹ thuật cổ truyền của làng lụa Hà Đông mà giờ đây đã trở nên xa lạ đối với nhiều người trong làng.

Điều mà người ta nói nhiều về nghệ nhân này ấy là chuyện ông cất công tìm kiếm, khôi phục và bảo lưu 21 loại lụa vốn đã bị mai một theo thời gian. Trong đó đặc biệt có những loại vân quý hiếm như: lụa Vân quế Hồng Điệp, lụa vân Triệu Thọ, lụa vân Tứ Qúy, lụa vân Long Phượng mây bay, lụa sa tanh Bát Bửu¦

Khi nhận được bất kỳ một mẫu cổ nào, ông lại cặm cụi nghiên cứu và hợp tác với những nghệ nhân cao tuổi trong làng: cụ Bằng thì giúp vẽ lại mẫu hoa văn, cụ Nguyễn Đễ chỉnh khung dệt, cụ Nguyễn Văn Tư lo phần máy móc… Nhưng cái khó là ở chỗ các loại vân này đã thất lạc trong nhân dân qúa lâu, nhiều mảnh lụa sót lại chỉ bằng bàn tay.

Năm 1994, ông Trịnh Bách, người con của làng dệt Vạn Phúc từ Mỹ về quê mang theo dự án khôi phục những bộ triều phục thời Nguyễn đã cộng tác với ông Mão. Bỏ bao công sức, tiền của trong sáu năm trời, ông đã làm “sống lại”

Từ Hàng Sơn đến Chả Cá

Phố Hàng Sơn ban đầu chỉ là một ngõ hẹp, đầu thế kỷ XX vẫn còn là một lối đi vừa một chiếc xe tay. Cả phố chỉ có dăm nhà chuyên buôn bán sơn sống đưa từ Phú Thọ về. Vùng Đông Nam Á, một số nước trồng được cây sơn, nhưng cây sơn ở Phú Thọ có giá trị cao. Vì thế nhựa sơn và hàng sơn Việt Nam đã nổi tiếng ở nhiều nơi trên thế giới.

Người ta đã sử dụng sơn vào hai việc: Sơn quang dầu và sơn mài. Nhựa sơn pha với dầu trầu để vẽ, giữ nguyên độ bóng, gọi là sơn quang. Sơn mài tuy ra đời muộn hơn quang dầu nhưng đã làm cho khả năng nghệ thuật của sơn nâng cao lên rất nhiều: Sơn son thếp vàng, thếp bạc, các án thủ, ngai kiệu, hoành phi, câu đối, có cả hình phượng múa, rồng chầu… ở các đình chùa cổ kính, những di tích văn hóa lịch sử…

Rồi các mặt hàng mỹ nghệ: lọ hoa, tranh phong cảnh, ảnh màu, tượng gỗ,… sơn quang dầu của các nghệ nhân Việt Nam được khách trong và ngoài nước yêu thích.

Từ năm 1945, ở phố Hàng Sơn không còn gia đình nào làm nghề bán sơn nữa. Giữa phố “mọc lên” một cửa hàng Chả Cá tại số nhà 14, ngoài cửa bầy tượng ông Lã Vọng ngồi câu cá. Tên hàng trở thành tên phố.

Phố Chả Cá dài 180m, bắt đầu từ ngã năm Hàng Mã – Hàng Lược, đến ngã tư Lãn Ông – Hàng Cân. Phố Chả Cá, hai bên mặt phố chỉ là tường bên và cổng hậu của những cửa hàng có mặt tiền quay mặt ra phố Hàng Mã, Hàng Đường và Hàng Cá. Nhà cửa cũ kỹ, xây kiểu cổ, diện tích hẹp, nền cao, gác thấp, cửa gỗ. Cho tới thời mở cửa, bộ mặt phố Chả Cá thay đổi đến chóng mặt. Nhà cửa hai bên phố được xây dựng lại. Các gia chủ khắc phục “đất hẹp” bằng cách tăng chiều cao, cửa gỗ được thay bằng cửa sắt, cửa cuốn và các cửa hàng cũng khang trang, đẹp đẽ.

Hai chục năm “đổi mới”, phố Chả Cá phát triển rất mạnh. Trước hết phải kể tới “đặc sản” có mặt tại Chả Cá sớm nhất: nhà hàng Chả Cá. Hiện nay Hà Nội có nhiều cửa hàng bán chả cá, song “xịn” nhất, ngon nhất là chả cá ở phố Chả Cá. Vì cá ở đây là loại cá lăng sông Thao, sông Lô, sông Hồng được “đánh” về nuôi trong các bể lớn. Cá được lạng ra thành miếng, ướp riềng, hạt tiêu.

Khách tới ngồi vào bàn, nhà hàng đem đến một bếp lò đỏ rực than hồng, trên có chiếc chảo nhỏ. Khách tự thả từng miếng cá đã nướng vàng, mỡ reo nổ tí tách khi được phủ thì là, hành hoa. Các gia vị được bày ra: Mắm tôm hoặc nước mắm pha chút tinh cà cuống, chanh, ớt, lạc, hành hoa củ chẻ mỏng, rau thơm, mùi, thì là, hành hoa: Cá chín, tạo một hương vị cực kỳ hấp dẫn.

Một miếng cá, một ít lạc, rau sống chấm vào bát mắm tôm chanh ớt cà cuống, gắp lên miệng, nhai từ tốn để thưởng thức cái nóng, cay, thơm lan tỏa, chiêu thêm một “tợp” rượu nếp cái hoa vàng nữa, cứ gọi là ngất ngây. Chả cá Lã Vọng, món quà quen thuộc của khách trong và ngoài nước.

Cùng với chả cá, phố còn cửa hàng “Hà Nội phố” bán mì vằn thắn, hàng phở gà, bún thang phục vụ khách vào buổi tối. Ba cửa hàng ăn, tạo thế “chân vạc” phác thảo một nét chấm phá ẩm thực khó quên.

Cửa hàng hoa lụa của nghệ nhân Mai Hạnh xuất hiện bên số lẻ khi Hà Nội còn xa lạ với chủng loại hoa độc đáo này. Bây giờ hoa lụa Mai Hạnh trở thành một thứ hàng nội “chất lượng cao” đã vượt biên giới xuất khẩu đến với nhiều bạn bè trên thế giới.

Phố Chả Cá có “sự phân công lao động” rất rõ: bên số chẵn dành cho các cửa hàng đồ chơi trẻ em, bên số lẻ các cửa hàng văn phòng phẩm: Mai Uyên, Thanh Thúy, Mai Hương, Sơn Thảo, Phương Anh. Đặc biệt bút bi Bến Nghé chiếm lĩnh thị trường, độc quyền cung cấp cho một số trường cấp 1 – 2

Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Cái nôi trí tuệ Việt Nam

Năm Canh Tuất 1070, đời Lê Thánh Tông, vua cho dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền. Sau đó Văn Miếu là nơi Hoàng Thái tử đến học nên có tên gọi là Thái Học.

Năm Bính Thìn 1076, lập nhà Quốc Tử Giám làm nơi học tập của con quan lại và giới quý tộc. Đến đây, Văn Miếu – Quốc Tử Giám trở thành trường học đầu tiên quy mô lớn đào tạo hiền tài cho đất nước, và trở thành cái nôi của trí tuệ Việt Nam. Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra đời, Nho giáo đã trở thành Quốc giáo phát triển cho đến tận những năm đầu thế kỷ XX.

Giám sinh (học trò Quốc Tử Giám) là những người đã đỗ thi Hương và phải qua một kỳ kiểm tra nghiêm nhặt, để chuẩn bị cho kỳ thi Hội và thi Đình. Quá trình học tập chủ yếu là nghe giảng sách, bình văn và làm văn.

Năm ất Mão 1075, vua Lý Nhân Tông tổ chức khoa thi Minh Kinh bác học đầu tiên và khoa thi Nho học tam trường. Trong thời gian tồn tại của mình, triều Lý đã tổ chức bảy khoa thi, nhà Trần tổ chức 19 khoa thi. Kể từ khoa thi Thái Học sinh thứ ba, năm 1247 triều đình định ra tên gọi ba người đỗ cao nhất thuộc đệ nhất giáp là Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa.

Đến năm 1404, Hồ Hán Thương quy định cứ ba năm thi hội một lần. Kể từ năm 1442, khoa thi tiến

sĩ đầu tiên đời Lê Thái Tông trở đi thì cứ sáu năm tổ chức một kỳ thi. Đời vua Lê Thánh Tông, chế độ học hành, thi cử rất được coi trọng và đi vào nề nếp, cứ ba năm mở một kỳ thi. Những người đỗ đạt được triều đình tổ chức lễ xướng danh, trao bảng vàng, xiêm áo, được vinh quy bái tổ. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông đã cho khắc tên những người đỗ đạt kể từ khoa thi năm 1442 để lưu danh trong lịch sử khoa cử của đất nước. Thời nhà Mạc, triều đình cũng đã tổ chức được 22 khóa thi. Khi nhà Nguyễn lên ngôi, vua Gia Long chuyển kinh đô và rời Quốc Tử Giám vào Phú Xuân (Huế), đồng thời cũng chấm dứt việc thi Hội, thi Đình ở Thăng Long.

Hiện tại, trong Văn Miếu vẫn tồn tại 82 bia tiến sĩ được dựng từ năm 1484 đến 1780, trên bia ghi rõ tên tuổi, quê quán của 1.307 vị đỗ đại khoa.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là ngôi trường đào tạo nên những bậc hiền tài phò vua trị quốc, mà đây còn là một công trình có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật tiêu biểu của Thăng Long – Hà Nội.

Trấn Bắc tự, ngôi chùa gần 1500 tuổi

Chùa Trấn Quốc – Trấn Bắc tự là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở nước ta. Chùa được lập từ thời Lý Nam Đế (544- 548), gắn liền với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân. Thuở đầu chùa mang tên Khai Quốc (mở nước) đến năm Đại Bảo đời vua Lê Thái Tông chùa được đổi tên thành An Quốc.

Chùa nằm ở giữa bãi sông Nhị thuộc làng An Hoa, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Đến năm 1615, bãi sông bị sạt lở nên chùa được di dời đến làng Yên Phụ trên một đảo nhỏ nổi lên giữa bốn bề sóng nước hồ Tây, nơi xưa kia đã từng dựng cung Thúy Hoa đời Lý và điện Hàm Nguyên đời Trần.

Năm 1642, đắp con đê Cố ngự gọi trệch đi là Cổ ngư tức đường Thanh Niên bây giờ, nhân dân làng An Hoa đã xây dựng thêm thượng điện, nhà thiêu hương, đào hào, mở rộng khuôn viên chùa và lối đi… Năm 1628, chùa được đổi tên thành chùa Trấn Quốc. Đến năm 1844, vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong chuyến ra Bắc, khi đến thăm chùa và đổi tên thành Trấn Bắc tự, nhưng người dân vốn quen tên gọi là chùa Trấn Quốc cho đến ngày hôm nay.

Vẻ đẹp của ngôi chùa cổ đã được các bậc nho sĩ đương thời ngợi ca, nhất là sau khi chùa được dời về

doi đất cá vàng trên hồ Tây như bây giờ. Qua các giai đoạn lịch sử, ngôi chùa không ngừng được trùng tu, tôn tạo và luôn giữ được vị trí danh thắng bậc nhất kinh thành. Chùa Trấn Quốc đã kết hợp được vẻ đẹp cổ kính và không gian đẹp đẽ của cảnh quan thiên nhiên khu vực hồ Tây. Chùa còn lưu giữ rất nhiều tấm bia quý chứa các tư liệu lịch sử vô giá. Hệ thống tượng Phật trong chùa rất phong phú và giàu giá trị nghệ thuật, phải kể đến bộ Tam Thế, Niết Bàn cùng các vị sư tổ của chùa qua các thời kỳ. Vườn tháp chùa không chỉ là nơi viên tịch của các vị sư mà còn tô điểm thêm cho sự cổ kính, linh thiêng của ngôi chùa. Trong sân chùa là cây bồ đề cành lá sum suê rợp bóng mát, đó là quà tặng của cố Thủ tướng Ấn Độ Giaoa Háclan Nêru khi ông đến thăm Hà Nội và viếng chùa Trấn Quốc năm 1959.

Vẻ đẹp và giá trị lịch sử của chùa Trấn Quốc không ngừng được nghiên cứu và phát huy. Năm 1962, chùa Trấn Quốc đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Phố Yết Kiêu

Yết Kiêu lâu nay có lẽ không chỉ được nhắc đến như tên của một con phố, mà nó còn là cái từ được ít nhiều trọng vọng trong giới hoạ sĩ. Biệt ngữ dân Yết Kiêu đấy ngụ ý những nghệ sĩ mỹ thuật tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, nằm ở tâm điểm của con phố tại số 42.

Ngôi trường được thành lập từ năm 1925, do công của hoạ sư người Pháp Victor Tardieu. Nơi đây từng làm rạng danh biết bao thế hệ hoạ sĩ Việt Nam; những bộ tứ Sáng – Nghiêm – Liên – Phái, Trí – Lân – Vân – Cẩn đã để lại dấu ấn đậm nét trong nền nghệ thuật Việt Nam.

Thuộc khuôn viên trường, Trung tâm Việt Art mới được khai trương vào đầu tháng 9 năm nay cũng là một địa chỉ mới cho dân nghệ. Địa chỉ này đã và đang khuấy động không khí nghệ thuật Hà Nội bằng các hoạt động mỹ thuật đương đại xen lẫn vào các cuộc triển lãm tranh. Do đó phố Yết Kiêu cũng được xem như phố của các nghệ sĩ.

Mỗi sáng đi qua đây, không có ý để tâm nhưng chắc hẳn bạn sẽ không thể bỏ qua hình ảnh một dãy dài dân nghệ tụ tập trà đá ngay phía ngoài cổng trường mỹ thuật, với nào lỉnh kỉnh bao giấy, cặp túi thùng thình trông có vẻ lếch thếch mà hoá ra cuốn hút.

Khoảng chục năm trở lại đây, đối lập với vẻ dân nghệ lãng mạn bên trường Mỹ thuật là sự hiện diện của Trung tâm FPT. Dân nghiền tin học thường xuyên qua lại đây. Kèm theo đó một địa chỉ cà phê wifi mới mở. Cái phong cách của dân PC, khiến người ta dễ dàng nhận ra ngay, nó đối lập hoàn toàn với những quán trà đá tràn cả ra vỉa hè của đám nghệ sĩ.

Ở đầu kia của phố, nơi giao nối với phố Nguyễn Thượng Hiền, còn có một góc khác của cuộc sống đương đại. Đó là khu chợ tạm ở ngay góc phố ngang Đỗ Hành, ồn ào, bận bịu và dân dã từ tờ mờ sáng.

Góp phần không nhỏ vào cái sự tấp nập mỗi sáng ở đây là quán phở gà ở số nhà 98. Cái thứ nước dùng trong veo đậm vị ngọt của xương, vài lát thịt gà mỏng và mềm, những sợi bánh phở đủ dai làm cho cái thú thưởng thức món sáng trên con phố này trở nên đáng nhớ. Đặc biệt là vào tiết đầu đông, cái se lạnh càng khiến cho bát phở gà vỉa hè nơi đây trở nên ấm lòng…

Thế mà lẫn trong cái không khí bình dân đặc quánh ấy lại là hai tiệm áo cưới khá nổi danh trên đất Hà thành: David Minh Đức, số 17 và đối diện nó là Thu Hương. Tiệm David Minh Đức nổi bật trước tiên nhờ không gian rộng thoáng của cả một toà villa thời Pháp có mặt tiền đến gần 20m. Tường kính làm nổi bật các thiết kế ấn tượng bày trên mannequin cũng như các poster quảng cáo. Còn bên kia, tiệm Thu Hương nhỏ xinh, dịu dàng với decor và thiết kế mẫu màu trắng e ấp dưới tán cây cổ thụ…

Một con phố, những nét đối nghịch nhau, những khoảng không gian trái ngược nhau… đã cùng tạo nên một vẻ đẹp và chiều sâu của bao người Hà Nội nữa.

Phố Hàng Ðường: Không chỉ có vị ngọt của đường

Phố Hàng Ðường dài 108m, bắt đầu từ phố Ðồng Xuân, qua ngã tư Ngõ Gạch để gặp phố Hàng Ngang-Lãn Ông-Hàng Buồm, những phố cổ tiêu biểu nổi tiếng buôn bán sầm uất của Hà Nội .

Hàng Ðường xưa nguyên là phần đất của hai thôn Vĩnh Thái và Ðông Hoa Nội Tự. Dấu vết của thôn xóm cũ còn lại: Ðình Ðức Môn và chùa Ðông Môn cùng chung số nhà 36B. Ðình Ðức Môn thờ ông Ngô Văn Long, một danh tướng đời Hùng Duệ Vương thứ 18. Chùa Ðông Môn-chung sân với đình Ðức Môn, dân gian gọi là chùa Cầu Ðông. Trong chùa có 40 pho tượng có nét chạm trổ văn hoa cổ kính. Cổng chùa có gác chuông, gác chuông treo quả chuông lớn đúc từ đời Tây Sơn, với dòng chữ “Ðông Môn tự chung” (Chuông chùa Ðông Môn). Gọi là Cầu Ðông, xuất phát bởi con sông Tô Lịch từ cửa Chợ Gạo, đi dọc phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch cắt ngang Hàng Ðường rồi chảy xéo lên Cống chéo Hàng Lược đổ lên Bưởi.

Phố Hàng Ðường từ xa xưa, bà con ở phố chuyên bán đường cất từ Quảng Ngãi ra hoặc mua từ các cửa hiệu người Tàu bên Hàng Bồ, Hàng Buồm, thực chất là đường của bà con nông dân của ta sản xuất, người Tàu mua đóng nhãn “Tàu” thành đường Tàu. Các cửa hàng bán đường kéo dài cả dãy suốt dọc hai bên phố. Vì thế phố có tên là Hàng Ðường. Sau đó, các nghệ nhân sáng tạo các loại bánh từ đường và các nguyên liệu khác: Lạc, vừng, nếp, bí, đậu xanh, mỡ, trứng mặn, vani… Ðầu tiên là kẹo lạc, kẹo vừng, kẹo dồi, chè lam “chân quê”, sau sang hơn có thêm: Bánh nướng, bánh dẻo, bánh ngọt, gatô. Mỗi năm có hai cái tết, tết Trung Thu và tết Nguyên Ðán đông khách nhất. Khách Hà Nội, khách các tỉnh xa về “cất” hàng. Nhiều cửa hàng nổi tiếng, lớp người 50-60 tuổi trở lên còn nhớ: Ngọc Anh, Ngọc Dung, Tùng Hiên…

Hàng Ðường thời “mở cửa”, do nhu cầu của cuộc sống, không chỉ còn có vị ngọt của đường, hàng hoá “pha” nhiều chủng loại đa dạng phù hợp với thị hiếu của “Thượng đế”. Hàng Ðường bây giờ, từ ngã tư Hàng Ðường- Ngõ Gạch ngược lên phố Ðồng Xuân gọi là Hàng Ðường trên, vẫn phát triển mặt hàng truyền thống: Bánh, mứt, kẹo… Nhiều loại ô mai Hàng Ðường đã thành thương hiệu riêng. Ô mai “món quà quê hương” của bà con Việt kiều xa xứ.

Hàng Ðường từ ngã tư giao với phố Ngõ Gạch xuôi về phố Hàng Ngang lại chủ yếu bán hàng phục vụ ăn mặc, làm đẹp. Bà con tiểu thương ở đây “phân công lao động” cụ thể để tránh “dẫm đạp lên nhau”, tranh giành khách. Bên số chẵn bắt đầu là mấy cửa hàng bán đồ mỹ phẩm trình bày đẹp như siêu thị, cửa kính đóng kín, có máy lạnh sang trọng, mát rượi phục vụ khách hàng Rồi đến các cửa hàng bán đồ sứ Bát Tràng, đến giày dép, cuối cùng là quần áo người lớn. Bên số lẻ bắt đầu các cửa hàng bán quần áo trẻ em, khuy, thắt lưng, ví da. Nếu nói đoạn phố Hàng Ðường này là bức tranh thương mại đa màu, bức tranh đó có nét chấm phá. Bên số chẵn vài ba năm gần đây mọc lên một khách sạn cao ngất: Majestic sang trọng. Bên số lẻ có một hiệu tân dược khá lớn và giữa phố một quầy sửa khoá phéc-mơ-tuya. Ông chủ là tổ trưởng dân phố, vừa sửa khoá ông vừa kiêm luôn trật tự viên nhắc nhở những ai còn chưa biết “sống và làm theo nếp sống văn minh đô thị”.

Phố Hàng Bông

Phố Hàng Bông có chiều dài gần 1 km, từ phố hàng Hòm đến phố Cửa Nam. Tên gọi Hàng Bông mới có cách đây khoảng 80 năm. Xưa kia, phố này gồm 4 phố: Từ phố Hàng Hòm đến ngã tư Hàng Mành, có hơn 30 số nhà, tên là phố Hàng Hài. Các cửa hàng ở đây bày bán có loại giày (hài) đế bằng gỗ vông, mũi bằng lụa thêu kim tuyến. Từ Hàng Mành đến Hàng Da có tên là phố Hàng Bông Đệm. Nhiều nhà ở đây bán chăn đệm kiêm nghề bật bông làm lại chăn cũ.

Tiếp đến là phố Hàng Bông Cửa Quyền. Cuối cùng từ ngõ Hội Vũ đến phố Cửa Nam là Hàng Bông Lờ, chuyên bán lờ, đó, dụng cụ đánh bắt cá.

Từ những năm 30 của thế kỷ trước, tại đây, một số nhà tư sản Việt Nam lập xưởng in như Trung Bắc, Mạc Đình Tư, Nghiêm Hàm ấn quán. Nhà thơ Tản Đà có Tản Đà thư quán. Nhà viết kịch Vũ Đình Long mở xưởng in Tân Dân. Nhà in Lê Văn Tân có công nghệ in mới, tiềm lực kinh doanh lớn, mang tên Lê Văn Tân. Sau này cả 2 là Nhà in Thống Nhất.

Thời trước phố Hàng Bông buôn bán đa dạng. Cửa hàng Xuân Dung chuyên bán xe của hãng Peugoet Sterling, Meteor. Cửa hàng Đa Phúc bán máy hát. Cửa hàng Phi Điệp là cửa hàng đầu tiên chuyên bán kem của Hà Nội. Nhà trồng răng Sinh Sinh, hiệu cắt tóc Phạm Hồng Phúc kiêm cả uốn tóc phi dê, hiệu gìò chả Quốc Hương của người làng Ước Lễ, có hàng trăm năm tuổi và nhiều cửa hiệu đồng hồ, kính bút, tạp hoá… rải rác trên phố.

Một thời từ sáng sớm khi trời còn mờ sương, xa xa đã thấy nhấp nháy tia lửa loé xanh trên cần tàu điện, tiếng chuông leng keng rộn rã reo vui, báo hiệu một ngày mới bắt đầu, trở thành một hình ảnh thân quen và là nét đặc trưng của Hà Nội hồi ấy.

Giờ đây phố Hàng Bông tấp nập, phong phú, đa dạng hẳn lên. Đầu phố là cửa hàng vàng bạc đá quý Kim Quy, gồm các số nhà 11, 13, 15. Tiếp đó là tiệm vàng Thanh Bình – Kim Lai, cùng nhiều cửa hàng vàng bạc khác trên phố như Bảo Tín, Hoàng Long, Tuyết Mai… tạo nên sự giàu có sang trọng của khu phố thương mại. Giữa phố, có tới gần 20 cửa hàng biển hiệu đỏ rực: Chuyên in, thêu, may, cờ, khẩu hiệu, quần áo thể thao…

Vào ngày lễ, hội, hay những giải bóng đá lớn, vỉa hè Hàng Bông bày bán đủ các loại cờ các cỡâ, băng rôn quấn đầu, quấán mũ, phục vụ cho các cổ động viên nồng nhiệt. Rải rác là những cửa hàng điện lạnh, nhiệt điện, vật liệu điện, dịch vụ sửa chữa điện của quốc doanh và tư nhân như Bể Điện, Lioa, Như Điện, Kasaki… Đây là những cửa hàng chuyên doanh điện làm phong phú thị trường.

Vào chiều tối, phố càng thể hiện hết mình về sự sầm uất của tuyến đường thương mại và du lịch. Đoàn xe xích lô Sansouci thong dong chở khách du lịch nước ngoài trên phố. Hai bên đường đèn thắp sáng trưng. Các cửa hàng thời trang thể thao như : Hoàng Tử, Thời trang nữ Lady, Thời trang nam, Thời trang trẻ em… và những cửa hàng cho thuê áo cưới Mai Châu, Bích Sinh, BạchTuyết, Ảnh viện Hồng Công… người mua sắm tấp nập.

Phố Hàng Bông bước vào thời kỳ hội nhập đã dạn dày với thử thách thương trường, chứng tỏ một tiềm năng lớn, đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu kinh tế của thành phố trong tương lai.

Phố Hoàng Quốc Việt đẹp và sầm uất

Nghĩa Ðô, tên Nôm của vùng ngoại thành phía Tây bắc Thủ đô, trước đây có con đường đá răm nhỏ cũng mang tên ấy. Ðường chạy từ dốc Bưởi đi Cổ Nhuế, xuyên qua các vạt lúa, ruộng rau muống sặc mùi bùn, tới tận đường Cầu Giấy. Nơi này khi ấy chỉ có một vài cơ quan nhà nước như Viện Khoa học Việt Nam, Tổng cục Ðo lường chất lượng thuộc Uỷ ban Khoa học VN, Học viên Kỹ thuật Quân sự, có một mé trường Ðảng cao cấp cũng áp vào đo,á tạo nên một vẻ trầm mặc uy nghi, làm cho con đường Nghĩa Ðô càng trở nên xa xôi, hẻo lánh.

Hơn chục năm lại đây, con đường này được xây dựng lại, mang tên mới: Ðường Hoàng Quốc Việt. Ðồng chí Hoàng Quốc Viêt (1902-1992), tên thật là Hạ Bá Cang, tham gia Cách mạng từ năm 1925, từng là Ủy viên Bộ Chính trị BCHTW đảng, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Chủ tịch UBTƯ MTTQVN.

Khi thành đường mới, với tốc độ phát triển kinh tế như vũ bão, nơi đây đã thay đổi hẳn. Trục đường này biến đổãi nhanh đến mức kỳ diệu. Từ hai dốc đường Bưởi đổ xuống, đường Hoàng Quốc Việt chạy thẳng một mạch chừng 2 ngàn 500 mét, có hai làn đường rộng 40 mét, ở giữa là thảm cỏ xanh trông đến mát mắt. Ðoạn đầu đường là đất xã Nghiã Ðô, đoạn cuối là đất xã Cổ Nhuế, Từ Liêm trước đây. Buổi tối khi thành phố lên đèn, đường Hoàng Quốc Việt sáng bừng lên, lung linh bởi hàng trăm ngọn đèn cao áp và hàng ngàn bóng đèn đủ màu sắc từ các cửa hàng, tạo cho ta cảm giác như được ngắm nhìn một dải ngân hà giữa nền trời sâu thẳm.

Sự thay đổi này phải kể đến hàng loạt các ngân hàng, nơi khởi nguồn đầu tư cho các dự án phăt triển kinh tế, đã tụ hội về đây tạo nên sự sang trọng và rất nhộn nhịp cho đường phố. Ngân hàng quốc tế VIBANK chiếm trọn ngôi nhà 7 tầng ngay đầu phố. Ngân hàng Ngoại thương VIETCOMBANK 12 tầng ở số nhà 98. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn số nhà 99… Ðến đây du khách cũng bắt gặp những cửa hàng bán các mặt hàng trang trí nội thất, trang thiết bị nhà tắm, nhà vệ sinh bằng sứ, inox, đủ các chủng loại lớán nhỏ, từ phổ thông đến cao cấp của các hãng cóá tên tuổi như ở phố Cát Linh vậy. Cửa hàng Vigracera, Công ty Gốm sứ xây dựng Hạ Long (số 10), cửa hàng gạch ốp lát trang trí và thiết bị vệ sinh Thanh Trì, các cửa hàng chuyên bán các sản phẩm cao cấp của các hãng có tên tuổi như TôTô, bình tắm nóng Ariston, cửa hàng Vân Hà chuyên doanh gạch men ốp lát… Ngoài ra còn có nhiều cửa hàng đại lý dây cáp điện như: Nhà hàng Sơn Hà cung cấp các loại bể nước inox đủ kiểu dáng; nhà hàng gỗ ván sàn GÔGO, cửa hàng nội thất sản phẩm Hoà Phát… Rồi các cửa hàng điện tử, điện lạnh, điện thoại di động nằm tập trung ở khu vực giữa phố với nhiều mặt hàng của các hãng Sanio, Digistan, LGEO… Hoặc siêu thị Ma xi mac ở số 64 và các công ty dịch vụ bưu điện nằm rải rác trên phố. Nổi bật nhất là toà nhà hình tháp đôi 20 tầng đang trong thời gian hoàn thiên ở số 106 có quy hoach khu siêu thị và các điểm thuê văn phòng rất trang trọng sắp đưa vào sử dụng.

Ðường Hoàng Quốc Việt không chỉ là nơi các ngành kinh tế, du lịch phát triển, mà còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cung cấp nhân tài cho nền kinh tế nước nhà. Ðó là các trường Ðại học và cao đẳng như trường Ðại học Ðiện lực, trường Cao đẳng Du lịch, Trung tâm Ðào tạo lập trình viên quốc tế, Viện Công nghệ Thông tin. Phía dãy số lẻ là Học viện Quốc tế A. S,Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo trung ương, Trung tâm Ðào tạo hướng nghiệp Tiền phong. Trang trọng nhất là Học viện Kỹ

Bánh xèo Hàng Bồ

Đã gần 10 năm nay, bắt đầu từ 2 giờ chiều mỗi ngày tại 22 Hàng Bồ, cô Vân lại luôn tay phục vụ thực khách tới thưởng thức món bánh xèo xuất xứ Nam bộ. Quán tuy nhỏ, chỗ ngồi hơi chật chội nhưng với cảm giác ngon miệng mà thứ quà nhẹ nhàng này đem lại đã khiến không ít thực khách trẻ tuổi vui vẻ chen vai cùng ngồi thưởng thức.

Theo cô Vân, để có được chiếc bánh ngon, phải có bí quyết chọn gạo làm nước bột, pha thêm trứng gà đánh cho tan đều. Rưới nước bột lên chiếc chảo nóng mỡ, rắc thịt bò thái mỏng, tôm nõn và giá lên trên, cuộn đôi lại. Bánh ngon phải có màu vàng đều, xốp mềm.

Để có thể phục vụ thực khách sành ăn sao cho hợp khẩu vị, thay vì dùng nước lèo truyền thống để chấm, cô Vân làm nước chấm từ loại nước mắm cực ngon pha giấm, đường, ớt. Bánh xèo tại đây thường được ăn kèm với rau xà lách, thơm, mùi.

Bắt đầu từ mùa thu, khách đông dần lên do bánh xèo hợp với khí hậu lạnh.

Phố Hàng Bồ dài 272 m, từ Hàng Bạc đến phố Bát Ðàn. Ðây nguyên là đất thôn Nhân Nội, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương. Dấu tích của thôn là đền Nhân Nội thờ công chúa Lân Ngọc, hiện ở số nhà 84 B. Phố trước kia có nhiều nhà bán bồ đan bằng tre, nứa cùng các đồ gia dụng như thúng, mủng, dần, sàng nên có tên phố Hàng Bồ.

Ðầu phố Hàng Bồ trước gọi là Hàng Dép. Nhiều cửa hàng bán đủ loại guốc, giày, dép như guốc đẽo bằng gốc tre, guốc gỗ vông quai da, dép có loại quai cong, quai ngang; giầy có loại cho nam – giầy Hạ, cho nữ: giầy Cườm, giầy Mang cá…

Cuối thể kỷ 18, Hàng Bồ phần nhiều là dinh thự của các quan lại, quý tộc họ Vương, họ Tạ trên những mảnh đất rộng xây 2, 3 tầng. Thời Pháp thuộc, một số người Quảng Ðông, Trung Quốc đến định cư trên phố. Họ lập nên những xưởng sản xuất pin đèn, nến thắp, mực in hay mở cửa hàng như Dự Thái Tường số nhà 74 chuyên bán các loại mũ đắt tiền, sang trọng. Tư sản Việt Nam là những ông chủ có đầu óc kinh doanh lớn chọn nơi đây lập nghiệp như Quảng Hưng Long số nhà 79 chuyên buôn bán tôn, sắt, thép. Nhà in Lê Cường toạ lạc trên mặt bằng 3 số nhà 73,75,77 với chiều sâu gần 100 m, xưởng dệt Cư Giao nằm trên khoảng đất rộng số nhà 15…

Vào những ngày giáp Tết, dọc hè phố Hàng Bồ các ông đồ Nho hay chữ trải chiếu ngồi với những chồng giấy điều bên nghiên mực tàu nắn nót viết. Khách xúm quanh ngắm nhìn, thán phục, mua chữ mang về treo trong nhà đón mừng năm mới tốt đẹp.

Những năm 60 của thế kỷ trước, các nhà tư bản Hàng Bồ vào công ty hợp doanh. Hàng Bồ có khá nhiều cửa hàng bách hoá nằm rải rác trên phố, các số nhà 42, 52, 54, 60…

Hàng loạt hợp tác xã lớn được thành lập kinh doanh đủ nghề với hàng trăm xã viên như HTX Thịnh Tường, Tân Phương chuyên cắt xén giầy, đóng sổ sách…HTX Hồng Châu chế tác mặt hàng mỹ nghệ vàng bạc. HTX Hồng Thái chiếm một mặt bằng rộng của ngôi nhà 88. Tại đây, đặt hàng chục chiếc máy đột dập các cỡ, từ nhỏ đến lớn, sản xuất ra những sản phảm gia dụng như bếp đèn dầu các loại, cặp lồng, chậu nhôm, chảo…

Một thời gian dài Hàng Bồ là một phố cổ mang hơi thở, nhịp sống khẩn trương của ngành công nghiệp nhẹ. Ngày nay, phố Hàng Bồ là một địa bàn có nhiều cơ quan nhà nước .

Phố cổ Hàng Bồ đang dần chuyển thành phố chuyên doanh. Thoạt đầu chỉ vài ba nhà đầu phố buôn bán những cuộån chỉ, kim khâu, cúc áo, dây chun…Thế mà giờ đây, cả phố san sát những quầy hàng trưng biển hiệu hẳn hoi: Dũng Hà, Thiên Hương, Thắng Hạnh chuyên kinh doanh các phụ kiện, hàng may mặc. Không chỉ có thế, mặt hàng nhỏ nhẹ này đã tràn sang đường Lương Văn Can, mở rộng địa bàn kinh doanh đến giữa phố và lác đác vài cửa hàng cuối phố.

Việc hình thành một phố chuyên doanh như một quy luật tự nhiên. Nó phù hợp với truyền thống đất kinh kỳ- người kẻ chợ: Buôn có bạn, bán có phường. Ðiều này thêm minh chứng cho tính năng động, tương thích với sự đổi mới của cuộc sống người Tràng An.

Phố Huế: Ngày thường cũng đông vui như hội

Huế là tên một đô thị có tên chữ là Phú Xuân và Thuận Hóa, từng là Kinh đô nước ta thời nhà Nguyễn, còn phố Huế ở Hà Nội kéo dài từ Ô cầu Dền đến Ngã tư Hàm Long. Phố Huế có gì mà sao nghe tên quá quen đến vậy? Ở đó có một cái chợ, lớn lắm, phải đứng thứ 2, 3 nội thành. Nó nằm ngay đoạn giữa phố và được gắn với cái tên là “chợ Hôm”.

Gọi là ngày xưa nhưng chỉ vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đúng chỉ có một cái “chợ hôm” tức là chợ chỉ họp vào buổi chiều hôm, chủ yếu là nơi mua bán mớ rau mớ cá vặt vãnh mà thôi. Thời đó, các bà nội trợ có muốn mua sắm nhiều thứ sang trọng hơn thì phải lên chợ Cầu Đông hay lên tít tận chợ Đồng Xuân. Sang đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của thành phố, chợ Hôm lớn dần lên thành chợ họp cả ngày, đồng bào các thôn xóm lân cận thường đem gà vịt ra bày bán ở hai bên cổng chợ.

Các cụ ông cụ bà nhà ta vẫn thường kể lại rằng, có một thời đoạn phố này có tên là Hàng Gà. Và, để phân biệt với Hàng Gà-Cửa Đông người ta đã gọi là Hàng Gà-chợ Hôm hay dốc Hàng Gà. Thời đó, có một nhà thương đau mắt Hàng Gà, nay là Bệnh viện mắt Trung ương.

Không khí sầm uất thương mại đã dần lan rộng khắp cả con phố dài gần 1200 mét… Đúng là không xuể để điểm mặt hàng trăm các cửa hàng cửa hiệu trên phố. Ngợp nhất vẫn là cửa hàng kinh doanh phụ tùng xe máy. Nhiều lắm, xấp xỉ 50% số hộ trên phố và mấy mươi năm nay họ vẫn “ăn no mặc ấm” cùng cái nghề này. Nhiều nhãn hiệu đã được biết đến nào là Yến Lan, Hương Thuỷ, Nga Hiệp,… đặc biệt là Cty TNHH sản xuất phụ tùng xe máy Mạnh Quang số 201 khá uy tín đối với nhiều bạn hàng bản địa lẫn thập phương.

Sánh với mặt hàng phụ tùng xe máy ở phố chỉ có thể là các cửa hiệu kinh doanh ôtô-xe máy. Mới, độc đáo, đa dạng… các loại xe gần như đều có mặt trong các cửa hàng trên phố. Từ đại lý xe máy Hằng Đạt số 291, Peugeot số 261, Việt-Thái Motor số 243… và nổi bật, có thể xếp hạng “top ten” trong làng kinh doanh là Kường Ngân số 62. Đặc biệt, khi đến phố bạn có thể yên tâm với cung cách phục vụ khách hàng theo tinh thần “tận tụy, chu đáo, lịch sự”.

Thời Pháp thuộc, phố này có tên là đường Huế, sau Cách mạng nó được đổi thành phố Duy Tân và mãi đến khi Hà Nội giải phóng thì cái tên phố Huế lại được khôi phục. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đường Huế, phố Duy Tân xưa hay phố Huế bây giờ vẫn giữ được nét đẹp nguyên sơ của Hà Nội ngày ấy. Một không gian rộng rãi, thoáng mát với những tán cây cổ thụ xanh, cao lớn lên cùng những thăng trầm của thủ đô.

Không gian ấy, bây gìơ còn lộng lẫy và rực rỡ hơn nhất là về đêm, khi các cửa hàng cửa hiệu đến giờ lên đèn. Từ thời trang Bossini, Jockey-thời trang số 1 của Mỹ, thời trang tóc Phúc Sinh, John Henry-giành cho người đàn ông sành điệu, giày Hippy đến Carolin-ảnh viện áo cưới và hoa nghệ thuật. Đến phố Huế, bạn có thể thưởng thức những món ăn từ các nhà hàng ẩm thực nổi tiếng như Hoà Bình Maria, Restaurant l™elegant (tiệm cơm thanh lịch), nhà hàng mỳ Spaghety 1 2 3… Bên cạnh đó, còn có cả những tiệm bánh nổi tiếng Hà Nội như Kinh đô Bakery, Mesa Bakery mà lúc nào cũng “đông như hội, rộn ràng như tết lễ”.

Một không gian yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh lịch toát ra từ căn nhà triển lãm những bức tranh thêu XQ Hà Nội số 88 hay một thế giới các sản phẩm pha lê sang trọng số 52 luôn làm cho bạn cảm thấy dễ chịu mỗi khi đặt chân đến cho dù bạn là ai, dù bạn chỉ đến để ngắm nhìn, thưởng thức và thư giãn.

Phố Huế, sầm uất và sôi động đó là điều ta dễ dàng nhận thấy

Huế là tên một đô thị có tên chữ là Phú Xuân và Thuận Hóa, từng là Kinh đô nước ta thời nhà Nguyễn, còn phố Huế ở Hà Nội kéo dài từ Ô cầu Dền đến Ngã tư Hàm Long. Phố Huế có gì mà sao nghe tên quá quen đến vậy? Ở đó có một cái chợ, lớn lắm, phải đứng thứ 2, 3 nội thành. Nó nằm ngay đoạn giữa phố và được gắn với cái tên là “chợ Hôm”.

Gọi là ngày xưa nhưng chỉ vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đúng chỉ có một cái “chợ hôm” tức là chợ chỉ họp vào buổi chiều hôm, chủ yếu là nơi mua bán mớ rau mớ cá vặt vãnh mà thôi. Thời đó, các bà nội trợ có muốn mua sắm nhiều thứ sang trọng hơn thì phải lên chợ Cầu Đông hay lên tít tận chợ Đồng Xuân. Sang đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của thành phố, chợ Hôm lớn dần lên thành chợ họp cả ngày, đồng bào các thôn xóm lân cận thường đem gà vịt ra bày bán ở hai bên cổng chợ.

Các cụ ông cụ bà nhà ta vẫn thường kể lại rằng, có một thời đoạn phố này có tên là Hàng Gà. Và, để phân biệt với Hàng Gà-Cửa Đông người ta đã gọi là Hàng Gà-chợ Hôm hay dốc Hàng Gà. Thời đó, có một nhà thương đau mắt Hàng Gà, nay là Bệnh viện mắt Trung ương.

Không khí sầm uất thương mại đã dần lan rộng khắp cả con phố dài gần 1200 mét… Đúng là không xuể để điểm mặt hàng trăm các cửa hàng cửa hiệu trên phố. Ngợp nhất vẫn là cửa hàng kinh doanh phụ tùng xe máy. Nhiều lắm, xấp xỉ 50% số hộ trên phố và mấy mươi năm nay họ vẫn “ăn no mặc ấm” cùng cái nghề này. Nhiều nhãn hiệu đã được biết đến nào là Yến Lan, Hương Thuỷ, Nga Hiệp,… đặc biệt là Cty TNHH sản xuất phụ tùng xe máy Mạnh Quang số 201 khá uy tín đối với nhiều bạn hàng bản địa lẫn thập phương.

Sánh với mặt hàng phụ tùng xe máy ở phố chỉ có thể là các cửa hiệu kinh doanh ôtô-xe máy. Mới, độc đáo, đa dạng… các loại xe gần như đều có mặt trong các cửa hàng trên phố. Từ đại lý xe máy Hằng Đạt số 291, Peugeot số 261, Việt-Thái Motor số 243… và nổi bật, có thể xếp hạng “top ten” trong làng kinh doanh là Kường Ngân số 62. Đặc biệt, khi đến phố bạn có thể yên tâm với cung cách phục vụ khách hàng theo tinh thần “tận tụy, chu đáo, lịch sự”.

Thời Pháp thuộc, phố này có tên là đường Huế, sau Cách mạng nó được đổi thành phố Duy Tân và mãi đến khi Hà Nội giải phóng thì cái tên phố Huế lại được khôi phục. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đường Huế, phố Duy Tân xưa hay phố Huế bây giờ vẫn giữ được nét đẹp nguyên sơ của Hà Nội ngày ấy. Một không gian rộng rãi, thoáng mát với những tán cây cổ thụ xanh, cao lớn lên cùng những thăng trầm của thủ đô.

Không gian ấy, bây gìơ còn lộng lẫy và rực rỡ hơn nhất là về đêm, khi các cửa hàng cửa hiệu đến giờ lên đèn. Từ thời trang Bossini, Jockey-thời trang số 1 của Mỹ, thời trang tóc Phúc Sinh, John Henry-giành cho người đàn ông sành điệu, giày Hippy đến Carolin-ảnh viện áo cưới và hoa nghệ thuật. Đến phố Huế, bạn có thể thưởng thức những món ăn từ các nhà hàng ẩm thực nổi tiếng như Hoà Bình Maria, Restaurant l™elegant (tiệm cơm thanh lịch), nhà hàng mỳ Spaghety 1 2 3… Bên cạnh đó, còn có cả những tiệm bánh nổi tiếng Hà Nội như Kinh đô Bakery, Mesa Bakery mà lúc nào cũng “đông như hội, rộn ràng như tết lễ”.

Một không gian yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh lịch toát ra từ căn nhà triển lãm những bức tranh thêu XQ Hà Nội số 88 hay một thế giới các sản phẩm pha lê sang trọng số 52 luôn làm cho bạn cảm thấy dễ chịu mỗi khi đặt chân đến cho dù bạn là ai, dù bạn chỉ đến để ngắm nhìn, thưởng thức và thư giãn.

Phố Huế, sầm uất và sôi động đó là điều ta dễ dàng nhận thấy

Huế là tên một đô thị có tên chữ là Phú Xuân và Thuận Hóa, từng là Kinh đô nước ta thời nhà Nguyễn, còn phố Huế ở Hà Nội kéo dài từ Ô cầu Dền đến Ngã tư Hàm Long. Phố Huế có gì mà sao nghe tên quá quen đến vậy? Ở đó có một cái chợ, lớn lắm, phải đứng thứ 2, 3 nội thành. Nó nằm ngay đoạn giữa phố và được gắn với cái tên là “chợ Hôm”.

Gọi là ngày xưa nhưng chỉ vào khoảng cuối thế kỷ XIX, đúng chỉ có một cái “chợ hôm” tức là chợ chỉ họp vào buổi chiều hôm, chủ yếu là nơi mua bán mớ rau mớ cá vặt vãnh mà thôi. Thời đó, các bà nội trợ có muốn mua sắm nhiều thứ sang trọng hơn thì phải lên chợ Cầu Đông hay lên tít tận chợ Đồng Xuân. Sang đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của thành phố, chợ Hôm lớn dần lên thành chợ họp cả ngày, đồng bào các thôn xóm lân cận thường đem gà vịt ra bày bán ở hai bên cổng chợ.

Các cụ ông cụ bà nhà ta vẫn thường kể lại rằng, có một thời đoạn phố này có tên là Hàng Gà. Và, để phân biệt với Hàng Gà-Cửa Đông người ta đã gọi là Hàng Gà-chợ Hôm hay dốc Hàng Gà. Thời đó, có một nhà thương đau mắt Hàng Gà, nay là Bệnh viện mắt Trung ương.

Không khí sầm uất thương mại đã dần lan rộng khắp cả con phố dài gần 1200 mét… Đúng là không xuể để điểm mặt hàng trăm các cửa hàng cửa hiệu trên phố. Ngợp nhất vẫn là cửa hàng kinh doanh phụ tùng xe máy. Nhiều lắm, xấp xỉ 50% số hộ trên phố và mấy mươi năm nay họ vẫn “ăn no mặc ấm” cùng cái nghề này. Nhiều nhãn hiệu đã được biết đến nào là Yến Lan, Hương Thuỷ, Nga Hiệp,… đặc biệt là Cty TNHH sản xuất phụ tùng xe máy Mạnh Quang số 201 khá uy tín đối với nhiều bạn hàng bản địa lẫn thập phương.

Sánh với mặt hàng phụ tùng xe máy ở phố chỉ có thể là các cửa hiệu kinh doanh ôtô-xe máy. Mới, độc đáo, đa dạng… các loại xe gần như đều có mặt trong các cửa hàng trên phố. Từ đại lý xe máy Hằng Đạt số 291, Peugeot số 261, Việt-Thái Motor số 243… và nổi bật, có thể xếp hạng “top ten” trong làng kinh doanh là Kường Ngân số 62. Đặc biệt, khi đến phố bạn có thể yên tâm với cung cách phục vụ khách hàng theo tinh thần “tận tụy, chu đáo, lịch sự”.

Thời Pháp thuộc, phố này có tên là đường Huế, sau Cách mạng nó được đổi thành phố Duy Tân và mãi đến khi Hà Nội giải phóng thì cái tên phố Huế lại được khôi phục. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đường Huế, phố Duy Tân xưa hay phố Huế bây giờ vẫn giữ được nét đẹp nguyên sơ của Hà Nội ngày ấy. Một không gian rộng rãi, thoáng mát với những tán cây cổ thụ xanh, cao lớn lên cùng những thăng trầm của thủ đô.

Không gian ấy, bây gìơ còn lộng lẫy và rực rỡ hơn nhất là về đêm, khi các cửa hàng cửa hiệu đến giờ lên đèn. Từ thời trang Bossini, Jockey-thời trang số 1 của Mỹ, thời trang tóc Phúc Sinh, John Henry-giành cho người đàn ông sành điệu, giày Hippy đến Carolin-ảnh viện áo cưới và hoa nghệ thuật. Đến phố Huế, bạn có thể thưởng thức những món ăn từ các nhà hàng ẩm thực nổi tiếng như Hoà Bình Maria, Restaurant l™elegant (tiệm cơm thanh lịch), nhà hàng mỳ Spaghety 1 2 3… Bên cạnh đó, còn có cả những tiệm bánh nổi tiếng Hà Nội như Kinh đô Bakery, Mesa Bakery mà lúc nào cũng “đông như hội, rộn ràng như tết lễ”.

Một không gian yên tĩnh, nhẹ nhàng, thanh lịch toát ra từ căn nhà triển lãm những bức tranh thêu XQ Hà Nội số 88 hay một thế giới các sản phẩm pha lê sang trọng số 52 luôn làm cho bạn cảm thấy dễ chịu mỗi khi đặt chân đến cho dù bạn là ai, dù bạn chỉ đến để ngắm nhìn, thưởng thức và thư giãn.

Phố Huế, sầm uất và sôi động đó là điều ta dễ dàng nhận thấy

Phố Hàng Ðiếu văn minh “ năng động

Phố Hàng Ðiếu bắt đầu từ phố Hàng Gà đến chợ Hàng Da, dài 270m. Phố có ngôi đền thờ “Ngũ hiển hoa quang Ðại đế” là thần trừ hoả hoạn. Ðền có một quả chuông lớn, hễ trong vùng có đám cháy là thỉnh chuông, mọi người đến cứu, dập hoả và cầu xin thần cho mọi việc lại yên bình.

Ngày xưa, phố Hàng Ðiếu bán các loại điếu hút thuốc lào. Các loại điếu bát bằng sứ Giang Tấy, sứ Bát Tràng … có hình thắt quả bồng, hình trái xoan, hình lục lăng…dát hoa văn bằng đồng, bằng bạc. Xe điếu dài từ 40cm đến 1m20. Loại điếu ống làm bằng gỗ gụ, gỗ trắc khảm vỏ ốc Singapore . Hai loại này thường dùng cho quan lại, nhà giầu. Sau này ống điếu bằng tre cũng được bày bán, loại này có tên là điếu cày.

Thời Pháp thuộc, Hàng Ðiếu có nhiều nhà làm và bán giày dép. Một số nhà tự đẽo những đôi guốc mộc bày bán. Sau này guốc được cải tiến, dùng riêng cho từng lứa tuổi, giới tính, sơn màu, hoa văn rực rỡ, hấp dẫn.

Trong thời chiến tranh chống Mỹ, nhiều gia đình ở Hàng Ðiếu chuyển hướng kinh doanh. Họ mua về những chiếc lốp ô tô hỏng chất đầy trong nhà. Thời kỳ đó, phố xá thưa vắng người qua lại, vỉa hè thành nơi sản xuất dép lốp cao su. Người dân Hàng Ðiếu cần mẫn từ sáng đến tối pha cắt lốp ô tô, rồi dùng một loại dao đặc chủng, “thục” lốp thành những dải cao su mỏng làm quai dép, phần dầy hơn làm thân dép. Hàng vạn, hàng vạn đôi dép lốp cao su được giao bán khắp các tỉnh thành phía bắc. Nhiều đôi dép “nâng niu bàn chân” các anh bộ đội vượt Trường Sơn, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Sau này, những đôi dép nhựa “Tiền Phong” màu trắng trong, thay thế dần đôi dép cao su giản dị, rẻ tiền. Hàng Ðiếu lại chuyển hướng kinh doanh, nhiều gia đình sắm máy may về cần cù suốt ngày pha cắt những xúc vải giả da để may những túi xách, cặp học sinh, vải bạt…bán buôn, bán lẻ ngay trên phố.

Giờ đây, Hàng Ðiếu đang thay đổi dần. Nhiều mặt hàng mới đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ðầu phố là những hàng bán chè Thái Nguyên, chè ướp hoa nhài, mứt sen trần, bánh cốm. Các quầy hàng Hải Linh (số 8), Bắc Nam (số 20), Ninh Hưong ( số 22), Nguyên Hương (số 24) từ lâu là những địa chỉ quen thuộc của dân sành chè Hà nội. Cuối phố, gần chợ Hàng Da, hơn chục của hàng bánh cốm, bánh gai, bột sắn, chè Thái, đặc biệt là mứt và ô mai. Tràn ngập quầy hàng là những túi mứt mơ vàng óng, mứt đào xanh nõn, mứt hồng đỏ rực cùng 20 loại ô mai, sấu cam thảo, chám cay, chanh mặn, quất dẻo, táo mèo…Người bán hàng niềm nở nhanh nhẹn giới thiệu các mặt hàng trong quầy giúp khách hàng dễ dàng lựa chọn.

Giữa phố Hàng Ðiếu lại giống như một siêu thị chăn ga gối đệm. Số nhà 61 chuyên kinh doanh đệm cao su Kim Ðan. Nhà 68 chuyên kinh doanh chăn ga Hàn Quốc. Nhà 60 toàn mặt hàng chăn, gối đệm lông vũ Nhật Bản. Hai cửa hàng số 45 và 72 chuyên doanh đủ bộ giường đệm. Gần đó là những cửa hàng: Miến lươn Ðông Thịnh, Tài Lộc với 70 món chè nóng lạnh, bún bò Nam bộ – Bình Phương rất đông khách.

Từ một phố cổ cần cù, chịu khó, với nhiều mặt hàng thủ công, Hàng Ðiếu giờ đây đã trở thành một phố văn minh thương mại giữa thủ đô, đầy năng động, thể hiện một nét đẹp tiềm tàng của người Tràng An trước một nền kinh tế đang chuyển mình. . Du khách đến đây vào buổi tối ngỡ như lạc vào một đêm hội hoa đăng, lộng lẫy ánh đèn, lung linh màu sắc phát ra từ những cửa hàng sang trọng, tấp nập.

Phố Hàng Ðào tơ lụa

Phố Hàng Ðào dài 260 m từ Hàng Ngang đến quảng trường Ðông Kinh Nghĩa Thục. Ðịa danh Hàng Ðào gắn với nét thanh lịch của người Tràng An cùng với sự phồn thịnh về thương mại của đất kinh kỳ.

Ðầu thế kỷ 15, một số dân làng Ðan Loan, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng ra đây lập nghiệp bằng nghề nhuộm màu tơ, lụa. Ngôi đình Hoa Lộc ở số nhà 90A là nơi thờ ông tổ nghề nhuộm của dân phố Hàng Ðào. Ban đầu tơ lụa nhuộm màu đỏ, màu hồng, màu hoa đào nên người ta gọi là phố Hàng Ðào. Sau này thị hiếu càng phong phú, tơ lụa được nhuộm sặc sỡ hơn gồm màu vàng, màu thanh thiên, maù cánh chả, màu lục v.v…

Thời Pháp thuộc, trên phố Hàng Ðào có một chợ phiên, họp mỗi tháng 6 lần, gọi là chợ tơ. Cứ đến ngày 1, ngày 6 (11-16-21-26) người làng La Khê, La Cả, làng Mỗ, Vạn Phúc, Bưởi… lại mang vải vóc của làng nghề ra họp chợ. Ðường tàu điện Bờ Hồ – Bưởi nằm giữa lòng phố chở hàng từ các nơi đến Hàng Ðào, rồi từ Hàng Ðào, khách buôn chở hàng về chợ Ðồng Xuân giao cho mối đi các tỉnh. Tiếng chuông tàáu điện leng keng nhộn nhịp vang lên dọc tuyến phố như nhịp đập rộn ràng của đời sống thương mại thị thành, thật gần gũi, quen thuộc và thân thiết. Thế kỷ trước, một số người Ấn Ðộ đến Hàng Ðào mở cửa hiệu bán các mặt hàng vải vóc, len dạ, tơ lụa từ Bom Bay chuyển sang. Phố Hàng Ðào càng thêm đông vui sầm uất và trở thành ” con đường tơ lụa của đất Thăng Long”.

Những ngôi nhà trên phố Hàng Ðào thường là cấu trúc hình ống, chiều sâu tới 60m, chủ nhà thoải mái dùng mặt bằng rộng rãi để kinh doanh. Các cửa hàng đèn thắp sáng trưng, những xúc vải quấån tròn, dựng đứng sát tường, đủ các chủng loại: Tơ, lụa, the, lĩnh, đũi, nhiễu…rực rỡ màu sắc, khách tha hồ ngắm nghiá, lựa chọn. Người bán hàng nhanh nhẹn, niềm nở, lịch sự, ân cần tiếp đón khách hàng. Nhiều thương hiệu uy tín còn đọng lại trong tình cảm quý trọng của khách như: Ðức Cát (số nhà 20), Lê Ðào (số nhà 86), Tam Kỳ (số nhà 48)…Những năm chống Mỹ nhu cầu ăn mặc thu hẹp dần. Nhiều cửa hàng trên phố vào công tư hợp doanh chuyển hướng sang cửa hàng bách hoá, một số bán các loại vải, quần áo giản dị, rẻ tiền. Ngay cả thời kỳ này, Hàng Ðào vẫn là phố nhộn nhịp nhất trong 36 phố cổ.

Giờ đây bước vào thời kỳ đổi mới, cuộc sống người dân ngày càng cải thiện, đòi hỏi phải ăn ngon, mặc đẹp. Hàng Ðào thể hiện rõ nét nhu cầu, thị hiếu ngày càng phong phú của người Tràng An. Bên số nhà lẻ, gần 20 cửa hàng đồng hồ sang trọng, lịch lãm với những thương hiệu thật ấn tượng: Khoảnh khắc, Tân thế kỷ, Thời gian vàng, Niềm tin…Quầy hàng bề thế, choáng lộn với những chiếc đồng hồ đắt tiền của những hãng nổi tiếng Nhật Bản, Thuỵ Sỹ…Bên cạnh đó còn có những cửa hàng thời trang trẻ em rực rỡ về mầu sắc, phong phú về chủng loại; các cửa hàng thời trang mũ với những kiểu dáng dịu dàng, duyên dáng…

Hàng Ðào có vị trí thật đẹp, gần Hồ Gươm- trung tâm Hà Nội, một địa điểm hấp dẫn du khách nước ngoài. Chợ đêm Hàng Ðào- Ðồng Xuân mở đến 12 giờ đêm đón khách, nhất là du khách nước ngoài, tô điểm thêm cho nét văn minh thanh lịch của ngưòi Tràng An. Vào các ngày thứ 6, thứ 7, Chủ nhật, tuyến phố thương mại Hàng Ðào càng rực rỡ lung linh hơn. Du khách thoả sức ngắm nhìn một đường phố nhộn nhịp, tấp nập người đi chen vai, sát cáãnh như nhịp sống trong một lễ hội tràn ngập niềm vui. Hàng Ðào đô hội luôn đắm mình trong thương trường, xứng đáng là một trong những tuyến phố sầm uất nhất Hà thành

Phố Hàng Buồm đô hội

Phố Hàng Buồm dài 300 mét nối từ phố Đào Duy Từ tới phố Hàng Ngang, trước đây là con sông nhỏ nối sông Tô Lich với sông Hồng, nên có tên là Giang Khẩu, thuộc phường Hà Khẩu. Thời Pháp chiếm đóng Hà Nội, vẫn gọi là Hàng Buồm, theo tiếng Pháp là Rue des Voiles.

Số nhà 76 là đền Bạch Mã, một di tích lịch sử nổi tiếng của Hà Nội có từ thời Cao Biền, thờ thần Long Đỗ, một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa. Bên cạnh đền trước từng có một ngôi chợ sầm uất, buôn bán hàng hoá từ các cừa sông, bến thuyền gần đó chuyển về. Đầu phố Hàng Buồm là những ngôi nhà lụp xụp, có nhiều nhà làm kho chứa đường phổi, đường bánh, đường phèn, đường cát từ Quảng Ngãi đưa ra.

Thế kỷ XVII, nhiều người Hoa chạy loạn sang nước ta được phép cư trú ở kinh thành Thăng Long, phần nhiều ngụ ở phố Hàng Buồm, mở các quán ăn nổi tiếng của người Tàu. Cuối phố Hàng Buồm là những quán hàng bán thịt lợn quay, vịt quay. Nhiều nhà bày bán lê, táo, hồng, hạt dưa đưa từ Trung Quốc sang. Nhiều cửa hàng của người Hoa ở giữa phố trở thành các tiệm cao lâu nổi tiếng Hà thành như Mỹ Kinh, Đông Hưng Viên, Nhật Tân.

Phố Hàng Buồm có rạp hát Quảng Lạc số nhà 88, tối tối đỏãí đèn diễn các vở kinh kịch Trung Quốc do các diễn viên người Quảng Đông trình diễn, người xem phần đông là Hoa kiều. Hiện nay đây là nhà Văn hoá của thành phố, trụ sở của nhiều câu lạc bộ văn hoá, văn nghệ nhưng cũng bị nhiều hộ dân lấn chiếm. Gần đó là nhà số 19, trụ sở của Hộåi liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, trung tâm thu hút các tài năng văn hoá của Thủ đô.

Ngày nay phố Hàng Buồm vẫn nổi tiếng với các món thịt quay. Các cửa hang lớn như Phú Điền ở 103, Vạn Thành 108, Trung Ký 109, Đông Phú 117… kéo quầy ra sát hè, bán hàng suốt ngày, khách mua tấp nập. Lợn sữa, lợn quay, ngan, vịt, gà quay…treo trong tủ kính khá hấp dẫn. Cạnh đó là những cửa hàng cà phê hương thơm bay ngào ngạt thu hút du khách. Rải rác trên phố có dăm bẩy nhà chuyên bán các loại hương liệu, nguyên vật liệu làm bánh như tinh dầu thơm, vani, phẩm mầu, bột dẻo, men bia…

Giờ đây, có thể nói Hàng Buồm là một trong rất ít phố cổ của Hà Nội vẫn còn kinh doanh những mặt hàng khá đồng nhất. Suốt dọc phố la liệt các cửa hàng chuyên doanh bánh kẹo, sữa, đường. Những chiếc khay nhựa dựng đầy bánh kẹo đủ màu sắc của các hãng trong nước và nước ngoài như Thái Lan, Trung Quôc, châu Âu…Bên cạnh là những tủ đựng hạt dưa đỏ thẫm, hật điều trắng ngà, những hộp quả vải khô, chanh muối, thạch đỏ v.v…Trong nhà đầy chật các quầy hàng là sữa đủ loại, đủ nhãn mác của các hãng nổi tiếng thế giới, trông loá cả mắt. Nhiều cửa hàng kinh doanh cả mặt hàng nước giải khát đóng hộp, bia, rượu các loại, ta, tây, tàu.

Vào dịp Trung Thu, Hàng Buồm càng sầm uất, rực rỡ màu sắc của những dải băng rôn trên những hộp bánh nướng, bánh dẻo màu vàng mở, đỏ rực bày khắp các quầy hàng, tràn ngập hè phố. Người bán kẻ mua tấp nập từ sáng đến tối, nhất là về đêm, càng nhộn nhịp, đông vui khi chợ đêm Đồng Xuân được mở.

Là một phố nổi tiếng một thời, tấp nập từ xa xưa cho đến hôm nay, Hàng Buồm luôn có sức sống mạnh mẽ, đầy sinh lực của một phố cổ đô hội, sầm uất hàng hoá trong buổi hoà nhập của nền kinh tế thị trường ở đô thành.

Phố Hàng Trống truyền thống đậm đà

Có một dòng tranh dân gian độc đáo về bút pháp, phong phú về đề tài, tươi tắn, sinh động về mầu sắc, rực rỡ làm nổi tiếng tên phố, là dòng tranh Hàng Trống. Đó là dòng tranh độc đáo do những nghệ nhân làng Tự Tháp, tổng Tĩnh Túc, huyện Thọ Xương xưa làm ra. Phố Hàng Trống nổi tiếng còn là tên của mặt hàng được dân làng Tiên Hương (Hải Dưong) ra đây làm và bán. Những chiếc trống cơm, trống bồng, trống bản, trống cái, trống con bầy rải trên phố.

Cũng tại đây, dân làng Đào Xá (Hà Tây) làm và bán những chiếc lọång, ô dù rất đẹp…

Nửa đầu phố, xưa có tên là phố Hàng Thêu. Dân làng Quất Động, Hướng Dương (Thường Tín) ra đây lập nghiệp, bán sản phẩm là những chiếc khăn tay, khăn trải bản, khăn trải giường, quần áo, được thêu ren, hoa lá, chim muông, cũng như những bức tranh thêu cảnh bờ ao, luỹ tre, đồng ruộng, nếp nhà tranh… làm cho người dân “kẻ chợ” ngắm nhìn, vui mắt, thích thú mua sắm.

Khách du lịch đến Hàng Trống hôm nay tận mắt thấy những cửa hàng tranh lộng lẫy . Những “thợ vẽ” ngồi sao chép tranh từ chuyện cổ Việt Nam đến tranh truyện hiện đại của Nhật Bản ở gần một chục của hàng trên phố. Có những phòng tranh sang trọng, lịch sự dành cho những nhà sưu tầm tranh chuyên nghiệp. Nhà tranh Việt Fine ARTS số 96 và các của hàng “Galerry” san sát hơn 30 quầy, bầy bán đủ các loại tranh tranh sơn mài, tranh thêu Quất Động, bên cạnh tranh dân gian Hàng Trống và các loại túi thổ cẩm, tượng gỗ, tượng khắc đáä, đồ gia dụng, mây tre cổ xưa. Những bức tranh gà, cá, tố nữ, tứ bình, màu sắc sinh động, tươi tắn, tranh bạch hổ, Ngũ hổ uy nghiêm, tranh danh tướng lịch sử, tranh tứ bình chim, hoa mềm mại, rực rỡ… trở thành mặt hàng có truyền thống văn hoá của phố xưa Hà Nội.

Tuy vậy, ngày nay Hàng Trống còn rất ít nghệ nhân làm tranh dân gian. Nghệ nhân Lê Văn Nghiêm, chuyên viên của Viện Bảo tàng Mỹ thuật là một người trong số ấy, ông luôn say sưa sáng tác và trùng tu những bức tranh cổ, đồng thời cố gắng truyền niềm say mê nghề như một “tiền nghiệp” cho con trai để bảo tồn dòng tranh Hàng Trống.

Gần một nửa số nhà trên phố Hàng Trống giờ đây kinh doanh trang phục thời trang. Riêng Công ty Thương mại Dịch vụ Hafaco có đến 7 của hàng lớn chuyến kinh doanh quần áo nam nữ. Cửa hàng Phú Mỹ chuyên doanh complê, vetston. Có một của hàng rất nổi tiếng, quen thuộc với người Hà Nội, đó là của hàng quần áo trẻ em Đức Hạnh của bà Trần Thức Lễ, khởi nghiệp từ năm 1950. Sau bao nhiêu biến đổi thăng trầm cuả thị trường, cửa hàng Đức Hạnh vẫn đứng vững trước thời gian bằng sự say mê nghề nghiệp, tận tụỵ và sáng tạo phục vụ khách hàng.

Giờ đây, trong ngôi nhà nhỏ hẹp ở số 21 Hàng Trống, ông bà thu gom diện tích sinh hoạt của gia đình đến “tối thiểu” để dành mặt bằng cho sản xuất. Hàng nghìn bộ đồng phục học sinh của nhiều trường trên địa bàn Hà Nội đã được xuất xưởng tại đây. Nhiều mẫu mã thời trang trẻ em của Đức Hạnh đã được thị trường hào hứng chấp nhận. Ông bà là người luôn sẵn sàng đóng góp từ thiện, hàng trăm cân quần áo Đức Hạnh đã kịp thời đến tận tay trẻ em ở vùng thiên tai, bão lũ.

Đoạn cuối phố Hàng Trống gần như là trụ sở làm việc của các công sở. Toà soạn báo Nhân dân số nhà 71, UBND quận Hoàn Kiếm số nhà 124, Tổng Công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam số nhà 120. Tại số nhà 79, sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 là trụ sở Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Những năm chiến tranh chống Mỹ, là trụ sở Câu lạc bộ Thống nhất dành cho các cán bộ miền Nam tập kết. Bên cạnh phố Hàn

Ðại lộ Rôlăng ngày ấy, phố điện tử ngày nay

Ðại lộ Rôlăng, khu phố Tây, những cái tên gần như quá quen thuộc với ai từng sống vào năm tháng trước Cách mạng hoặc đã từng biết qua mấy cuốn sách lịch sử thời bình. Ðó chính là tên gọi cũ của phố Hai Bà Trưng ngày nay. Hai Bà Trưng – một trong những con phố có mật độ người qua lại đông nhất Hà Nội không chỉ bởi độ dài, rộng của nó mà đây được xem là khu trung tâm thương mại của Thủ đô.

Con phố này, lúc nào cũng vậy, rộn ràng và náo nhiệt. Bắt đầu từ Lê Thánh Tông hay đường Lê Duẩn đều đến được phố Hai Bà Trưng với chiều dài 1676 mét. Thời Pháp thuộc, đây là một phố được mở mang sớm và thuộc vào khu phố Tây, được gọi là đại lộ Rô-lăng.

Vào những ngày cuối tuần, người trên phố càng đông. Họ đến và mua sắm những thứ mình yêu thích. Không nói ngoa nhưng ở đây gần như thứ gì cũng có. Chỉ cần thoáng qua phố, chúng ta dễ dàng tận mắt chứng kiến những điều đã nói. Không thể đếm xuể, hàng chục cửa hàng rải đều từ đầu đến tận cuối phố. Các công ty đồ sộ hay những đơn vị kinh doanh cá thể nhỏ lẻ đều có thể điểm mặt trên phố. Nét nổi bật của phố chính là sự đa dạng các mặt hàng được bày bán để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của hàng nghìn người tiêu dùng.

Nhiều và đông nhất là loại hình kinh doanh hàng điện tử. Những cửa hiệu lớn, đã tạo dựng được thương hiệu ấn tượng trong lòng người tiêu dùng như cửa hàng đại lý điện tử số 52, số 39 A, số 25, số 39/14… Ðến đây, các bạn có thể lựa chọn bất cứ loại hàng hóa điện tử nào (tivi, video, dàn ăm li), bất kỳ kiều dáng nào và đặc biệt là giá thành sản phẩm cũng vô cùng phong phú, phù hợp với túi tiền khách hàng.

Không chỉ duy nhất mặt hàng điện tử, phố thương mại Rôlăng xưa còn kinh doanh nhiều mặt hàng khác như thời trang Xuân Dũng số 57b, Hải Long số 70, Pierre Cardin số 49. Nếu ai đó có nhu cầu làm một chuyến du lịch bằng tàu bay cũng có thể đến các đại lý bán vé máy bay trên phố này như Hy vọng số 112, Ðôi cánh phương Ðông số 49… Chỉ cần lưu ý một chút, chúng ta sẽ nhìn thấy tòa nhà cao tầng Hanoi Tower số 49, nơi tập trung khá đông các đơn vị kinh doanh lớn không chỉ riêng Hà Nội mà có cả trong nước và quốc tế. Loại hình kinh doanh nhỏ lẻ trên phố cũng đa dạng chẳng kém. Các cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh in ấn, bánh ngọt, nhà may… cũng luôn chào đón khách hàng với khẩu hiệu khách hàng là thượng đế.

Phố thương mại Rôlăng xưa, nay đã hơn 60 năm đổi tên, phố cũ tên mới nhưng có lẽ, Rô-lăng hay Hai Bà Trưng thì nó vẫn được gìn giữ, tôn tạo và phát triển tính chất thương mại của phố.

Ðến phố vào ngày rằm, người xe đông đúc và tấp nập lắm, nhất là tại những ngôi chùa Bích Lưu số 64 và chùa Thiên Phúc Tự số 94. Ðây là hai ngôi chùa được tạo dựng từ xưa nhưng vẫn còn gìn giữ cho đến tận bây giờ. Người ta đến đây thắp hương, cầu may với ước nguyện làm giàu cho mình, cho thành phố và đất nước mình.

Hàng Gai – Phố tơ lụa

Phố Hàng Gai dài 253 m, bắt đầu từ phố Hàng Ðào đến phố Hàng Bông. Xưa kia, đoạn từ Hàng Ðào đến Tố Tịch là phố Hàng Tiện. Lúc đó người làng Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây) đã mang nghề tiện gỗ ra đây lập nghiệp. Những chiếc máy tiện thô sơ, hoạt động bằng sức đạp của đôi chân, mãi sau này mới có mô tô điện. Sản phẩm làm ra là những chiếc mâm gỗ, ống hương, bàn tròn, đài rượu, song cửa….

Ðoạn còn lại của phố Hàng Gai lại chuyên bán dây đai, dây thừng bằng gai nên có tên là phố Hàng Gai. Một số người ở làng Liễu Tràng tỉnh Hải Dương mang nghề khắc gỗ ván inä ra đây cùng nhau lập những xưởng in. Cuối thế kỷ 19, một số nhà xuất bản ra đời như Tự văn đường tàng bản, Quán văn đường tàng bản ở đây. Thời kỳ thực dân Pháp chiếm Hà Nội, chúng lấy nhà số 80 Hàng Gai làm nhà công sứ. Số nhà 79 trở thành Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Khi ấy, những nhà in như Ðông Kinh ở số 82, Ngô Tử Hạ ở số 101 đã có những công nghệ mới in chữ quốc ngữ, lấn lướt các nhà in tàng bản. Một số tiệm tạp hoá, hiệu kính thuốc… cũng lần lượt mở ra trên phố.

Thời chống Mỹ, người phố Hàng Gai đa số đi làm ở cơ quan Nhà nứơc, các chủ cửa hàng vào công tư hợp doanh. Kiểu buôn bán tư thương bị mặc cảm trong xã hội. Lúc ấy mọi nhu cầu sinh hoạt của người dân hầu như do 4 cửa hàng quốc doanh nằm trên phố cung cấp. Những năm tháng này cũng có một vài của hàng hợp tác xã, tư nhân được nhiều người Hà Nội nhớ đến như hiệu ảnh Tam Anh, Núi Ðiện, HTX khắc dấu Tinh Hoa, cửa hàng cà phê Giảng. Những năm 80 của thế kỷ trước, thị trường hàng thêu ren, tơ lụa, bắt đầu xuất hiện và ngày càng nhiều những mặt hàng như khăn trải bàn, khăn ăn, khăn trải giường…. trắng muốt với nhiều hình thêu phong phú. Các làng nghề thủ công như La Khê, La Cả, Quất Ðộng, Vạn Phúc, Bưởi, Làng Mỗ… thoả sức thi tài, tạo ra nhiều mẫu mãâ, kiểu dáng, chủng loại hàng thêu, hàng tơ lụa. Trong các của hàng trưng bày la liệt những chiếc áo dài truyền thống, duyên dáng, dịu dàng. Những lô quần áo lễ hội sang trọng, lịch sự cùng những chiếc váy đủ màu sắc, kiểu dáng hấp dẫn du khách.

Hai dãy nhà ở phố Hàng Gai giờ đây choáng ngợp bởi những biển hiệu tiếng Việt, tiếng Anh như: Thảo Silk (lụa tơ tằm), Mai Trang Silk, Pink Silk, Country side Silk… Những cửa hàng nổi tiếng một thời trước đây bán các mặt hàng vải khác nay cũng chuyển hướng kinh doanh hàng tơ lụa để hoà nhập vào thị trường chung như Núi Ðiện Silk, Tam Anh Silk.

Hiện nay, khắp phố Hàng Gai đều bán hàng lụa tơ tằm. Bà chủ hiệu Tân Mỹ, Bạch Thị Ngải có cửa hàng mặt tiền chỉ rộng 70 cm đã khởi nghiệp từ những chiếc khăn mặt thêu hoa lá vào năm 1969, đến nay đã có những mặt hàng sang trọng phục vụ trong các khách sạn lớn với chất lượng, giá cả hợp lý. Tân Mỹ giờ đây đã là một thương hiệu uy tín đối với khách hàng nước ngoài, đã tậu thêm các ngôi nhà 66 Hàng Gai, 16 Hàng Trống, và 57 Hàng Nón để chuyên doanh. Bà rất nhiệt tình và hảo tâm đóng góp cho quĩ từ thiện của phường Hàng Gai.

Hàng Gai hiện tại tấp nập suốt ngày đêm. Cứ vào buổi chiều, buổi tối, các cửa hàng đã lung linh ánh điệân, đèn đủ sắc màu rực rỡ. Những tốp khách hàng cả trong và ngoài nước ra, vào tấp nập, mua bán, chiêm ngưỡng những mặt hàng sang trọng bầy đầy ắp các quầy. Nhân viên bán hàng là những thiếu nữ trẻ đẹp, với những chiếc áo dài duyên dáng, tươi tắn, niềm nở giao tiếp khách nước ngoài bằng tiếng Anh và tiếng Pháp khá lưu loát, thể hiện phong cách người Tràng An lịch sự, thanh lịch, hiếu khách ở một phố văn minh

Lãn Ông- Phố thuốc Bắc duy nhất ở Hà Nội

Y tông tâm lĩnh, Thượng Kinh ký sự- là những tác phẩm bất hủ của vị thầy lang Hải Thượng Lãn Ông (tên hiệu Lê Hữu Trác) vẫn thường được nhắc đến trong câu chuyện của mấy ông bà lão trên con phố ấy. Họ hàn huyên về chuyện đời, chuyện nghề và cả chuyện xưa khi con phố khi mới khai sinh, bởi phố Lãn Ông bây giờ đã đổi khác. Sầm uất, náo nhiệt và chững chạc hơn nhiều.

Vào đầu thế kỷ XX, phố này có tên là Phúc Kiến, bởi thời bấy giờ phần đông dân cư là Hoa Kiều gốc tỉnh Phúc Kiến đến ngụ cư tại đây. Thời tạm chiếm tên Phúc Kiến được đổi thành Lãn Ông, cho đến tận bây giờë. Không giống như bây giờ, ở phố, nhà nhà làm thuốc bắc, người người làm thuốc bắc, khách đến nhà cũng có chút thuốc bắc làm quà nhưng trong cuốn Ðại Nam nhất thống chí ghi rằng, thời xưa phố này chủ yếu bán đồng và thiếc. Ðúng như vậy, mãi tới những năm đầu thế kỷ XX thì nơi đây bắt đầu kinh doanh thuốc bắc.

Với chiều dài 180 mét, phố Lãn Ông được chia làm hai đoạn. Ðoạn đầu khoảng 50 mét, chuyên bán các mặt hàng khăn, áo quần cho trẻ sơ sinh. Rất nhiều cửa hiệu trên phố đã trở thành chốn quen của các bà mẹ như Hương Tuấn số 9, Hương Cường số 5, đặc biệt là Chuyên đồ sơ sinh Nhím của cửa hàng Hà Diện 15 Lãn Ông. Phần còn lại của phố, người ta chỉ chuyên về các mặt hàng thuốc bắc và đó là đặc trưng của phố đến tận bây giờ. Nào là, cơ sở kinh doanh thuốc y học cổ truyền, nào là cửa hàng chuyên kinh doanh dược liệu sống…thậm chí có cả khám chữa bệnh đa khoa và bán thuốc bào chế theo đơn. Theo con số thống kê, hiện nay trên phố Lãn Ông có 74 đơn vị kinh doanh có cửa hàng, hơn 90% các hộ kinh doanh có liên quan đến đông nam dược.

Một niềm vui không chỉ riêng của người dân trên phố, bởi cùng với phố Hàng Gai, Lãn Ông cũng được chọn làm phố chuyên doanh và dự kiến trong 2-3 năm tới, Hà Nội sẽ hoàn thành thí điểm hai tuyến phố chuyên doanh này. Ðây là cơ sở để khôi phục và phát triển phố nghề truyền thống. Ðể trở thành phố chuyên doanh, ngoài việc tuyến phố phải thống nhất về biểu tượng, lôgô, màu sắc chủ đạo, thì mỗi cửa hàng cũng phải có biểu tượng riêng của mình, biểu tượng phù điêu của nhân viên bán hàng, biểu tượng in trên bao gói sản phẩm tuỳ theo cấu trúc mỗi ngôi nhà, cửa hiệu và ý tưởng mỗi chủ hiệu. Ðặc biệt, tiêu chí văn minh thương mại đối với hàng hoá kinh doanh tại hai tuyến phố này bảo đảm theo khung giá chung. Mỗi mặt hàng bán theo giá niêm yết. Các đơn vị kinh doanh không lấn chiếm vỉa hè. Hàng phải có nguồn gốc xuất xứ ghi rõ trên mỗi sản phẩm. Phố chuyên doanh Lãn Ông không chỉ đảm bảo hoạt động kinh doanh mà có trách nhiệm quảng bá du lịch, khôi phục phố nghề. Chị Nguyễn Thị Ngọc, đời thứ 4 và cũng là chủ hiệu thuốc bắc 58 Lãn Ông tâm sự: Không chỉ riêng tôi mà cả thế hệ những người đi trước cũng thực sự vui mừng bởi nghề truyền thống làm thuốc bắc đang phát triển từng ngày. Trở thành phố chuyên doanh, trách nhiệm của chúng tôi lớn hơn nhiều, nhưng hơn hết là động lực để chúng tôi cố gắng tôn tạo, gìn giữ nét truyền thống và góp phần đẩy mạnh kinh tế thủ đô, nhất là trong dịp chào mừng 1000 năm Thăng Long Hà Nội.

Thái Hà, khu phố trẻ trung, sầm uất

Nằm trên trục đường từ ngã tư Tây Sơn – Chùa Bộc chạy một mạch gần như kẻ chỉ ngót 1000m đến đường Láng Hạ, điểm dừng cuối cùng là Trung tâm chiếu phim Quốc gia, phố Thái Hà trẻ trung, tươi tắn như một chàng trai tràn đầy sức lực, khát vọng. Nằm trọn trong địa phận ấp Thái Hà cũ, phố Thái Hà thật sự là điểm dừng chân lý tưởng của các thương nhân, dịch vụ thời internet.

Cách đây không lâu, khoảng mươi năm, nơi này chỉ là một bãi đất hoang, phía sau bức tường của Nhà máy xe đạp Thống Nhất, và một cụm dân cư chỉ có dăm bẩy nóc nhà, tiếp giáp là con đường nhỏ, chứng tích còn lại của khu lăng Hoàng Cao Khải. Ngày ấy, người ta đã khơi một con mương nối với dòng sông Tô Lịch ở bên đường Láng để vận chuyển vật liệu về xây dựng làng. Con mương đó dần dần bị phủ lấp và hai bên bờ mương đã trở thành lối đi.

Ðể đáp ứng nhu cầu phát triển của thủ đô, chính quyền thành phố đã quyết định làm con đường nối giữa đường Chùa Bộc xuyên qua Nhà máy xe đạp Thống Nhất, chạy cắt ngang ấp Thái Hà đến tận đường Láng Hạ nối với phố Huỳnh Thúc Kháng đến Láng Trung, (nay là phố Nguyễn Chí Thanh). Ðường Thái Hà hình thành từ đó.

Nơi bắt đầu của phố Thái Hà là một dãy ki-ốt bán các loại xe đạp. Ban đầu đa phần là xe đạp Trung Quốc, dần dần có các loại xe Viha của Nhà máy xe đạp Thống Nhất. Ðến giờ, thị phần xe Việt Nam đã chiếm 100% với kiểu dáng, mẫu mã đẹp, hợp túi tiền. Vào những dịp khai giảng năm học mới, phố Thái Hà trở thành siêu thị xe đạp, đáp ứng được mọi yêu cầu của khách hàng, không chỉ ở Hà Nội mà cả các tỉnh lân cận.

Các cửa hàng dịch vụ đua nhau mọc lên, từ cửa hàng áo cưới đến các cửa hiệu điện thoại di động và nhất là văn phòng của các công ty trong và ngoài nước, tạo nên một sắc thái mới cho phố Thái Hà. Vào buổi tối lên đèn, Thái Hà sầm uất, đô hội, rực rỡ,ä nhộn nhịp như một siêu thị lớn.

Giữa phố, ở đầu ngõ Ao Cây Dừa cũ, mấy năm trước nổi lên một hiệu cà phê Ðắng rất đông khách. Toạ lạc trên khu đất rộng khoảng 300 mét vuông, hiệu cà phê này có một cấu trúc rất khác lạ. Bước vào quán, người ta có cảm giác như bước chân vào một vườn cổ tích bởi những vòm đá , hang hốc và những bộ bàn ghế bằng gốc cây rất đặc biệt.

Thời gian gần đây, Ðài truyền hình Hà Nội và VTV2 đã liên tục giới thiệu một hàng miến lươn của phố Thái Hà. Ðây là một món ăn đặc sắc của Hà Nội xưa đã được truyền lại đến ngày nay. Món ăn đặc sắc này vốn không phải của phố Thái Hà mà nó được một nàng dâu đưa từ gia đình mẹ đẻ ở trên phố Mai Hắc Ðế về cùng chồng xây dựng cơ nghiệp.

Ai có dịp đi bộ trên đường phố Thái Hà luôn bắt gặp từng tốp, từng tốp những chàng trai cô gái trẻ tươi tắn trong bộ đồng phục rất đẹp, trước ngực đeo phù hiệu của công ty mình đang làm việc, sẵn sàng phục vụ khách khi bước vào nhà hàng, khách sạn. Không khí làm việc ở đó khẩn trương nhưng không hấp tấp vội vàng, rất tháo vát và đĩnh đạc.

Cuối phố, nơi gặp gỡ với Láng Hạ là Trung tâm chiếu bóng Quốc gia, nơi sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật thứ 7 lớn nhất thủ đô, càng tô điểm thêm cho phố Thái Hà thêm lộng lẫy.

Phố Ðào Tấn – phố của doanh nghiệp

Ðào Tấn sinh năm 1846, mất năm 1908, quê ở Bình Ðịnh, đỗ cử nhân năm 1867, đã từng là tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An-Hà Tĩnh), Thượng thư Bộ Công. Ông là tác giả các vở tuồng: Ðiểm Võ Ðình, Trần Hương Các, Hoàng Phi Hổ quá quan…Ông góp phần không nhỏ vào bộ môn nghệ thuật tuồng ở Trung Trung bộ.

Phố Ðào Tấn dài 850m, bắt đầu từ phố Liễu Giai chạy xuống đường Bưởi, nằm trên vùng đất của làng Thủ Lệ và một phần nhỏ của làng Vạn Phúc Thượng. Nơi đây trước là vùng dân cư đông đúc, với những ngõ chật hẹp, quanh co cùng những ngôi nhà cấp 4 thấp lè tè, tạm bợ, chờ quy hoạch.

Năm 2003, vào dịp SEA Games 22, phố Ðào Tấn được nối dài với hai làn đường, mỗi làn rộng 12m, dải phân cách là thảm cỏ xanh rộng gần 3m. Cùng với đường Liễu Giai, Nguyễn Chí Thanh, phố Ðào Tấn chạy song song với phố Kim Mã hợp thành một hệ thống giao thông hiện đại thông thoáng ở phía tây thành phố.

Với vị trí khá thuận lợi, phố Ðào Tấn trở thành nơi thu hút nhiều doanh nghiệp, doanh nhân tìm đến làm ăn và phát triển. Ðầu tiên phải kể đến khách sạn Daewoo ở ngay đầu dãy, bên số lẻ, với ba khối nhà cao 18 tầng, toạ lạc trên khu đất bề thế có bốn mặt tiền (phố Ðào Tấn, phố Liễu Giai, phố Kim Mã, phố Nguyễn Văn Ngọc). Daewoo là một khách sạn 5 sao hiện đại, là nơi nghỉ ngơi của các nguyên thủ quốc gia khi tới dự hội nghị, thăm và làm việc ở Việt Nam.

Tháng 7 vừa qua,, trên đất hai số nhà 22 và 24, Hotel Danly cao 14 tầng với kiến trúc hiện đại, mang nét kiến trúc riêng, hiện đại, ấn tượng, hấp dẫn du khách, mới được xây dựng. Những tập đoàn tài chính cũng nhanh chân chiếm lĩnh các trụ sở bề thế như Vietcombank số nhà 39, Ngân hàng Ðầu tư và phát triển VN số nhà 37, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn số nhà 106. Cũng phải nói đến thị trường thông tin, tin học thật sôi động, sầm uất như Viettel trụ sở ở số nhà 33, Neltra số 94, Samsung số 61, cùng với hơn chục cửa hàng thiết bị văn phòng phục vụ cho thông tin, tin học với những biển hiệu lớn, choáng ngợp ở tầng 2, tầng 3, nằm rải rác dọc phố. Ðầu dãy nhà bên số chẵn có Ðại sứ quán Australia, Viện Vật lý, Cục văn thư và lưu trữ quốc gia, tọa lạc trên những khu đất rộng rãi, thoáng đãng.

Phố Ðào Tấn có vỉa hè rộng rãi, nhà cửa khang trang, dân cư ngày càng đông đúc, khá giả trong cơ chế thị trường hôm nay. Vấn đề ẩm thựåc đã trở thành một nhu cầu, đòi hỏi sự đa dạng. Ởã Ðào Tấn những cửa hàng ăn uống nổi tiếng cũng được mở cửa, nhanh chóng giành những vị trí đẹp với nhiều tầng thoáng mát, thoải mái đón khách, lại có chỗ gửi xe rộng rãi. Liền cạnh khách sạn Daewoo là Công viên Thủ Lệ, một thắng cảnh đẹp của Thủ đô. Tại đây, nhà hàng ăn uống Làng Việt, số 9, mới được khai trương đầu tháng 7, khá sành điệu trong việc tạo cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn thực khách…

Huyền thoại – linh thiêng Phủ Tây Hồ

Men theo con đường rợp bóng cây cuối khu biệt thự Tây Hồ ở thủ đô Hà Nội, giữa bát ngát hương sen và cảnh đất trời hòa quyện trong ánh nắng chiều tà, doi đảo nhỏ được người xưa ví là bãi đất cá vàng nhô ra giữa mặt nước lung linh, đúng là cái thế đầu rồng, thân rồng, rùa cõng khiến khách vãn cảnh cảm thấy âm dương đối đãi, tâm hồn mình thư thái lạ.

Vượt qua cổng Phủ Tây Hồ sừng sững bên cây đa cổ, con đường vào phủ uốn lượn theo mép hồ lơ thơ liễu rủ lại đưa bước chân du khách tới hai cây vối lớn hiếm thấy và một cây si cổ thụ ngay trước cửa Động Sơn Trang, vươn những chùm rễ đại ra mặt nước cho chim chóc đua nhau về làm tổ. Cảnh đẹp nên thơ ấy là một trong những lý do khiến Phủ Tây Hồ luôn thu hút khách thập phương đến bằng đường bộ cũng như bằng đò trên hồ Tây. Truyền thuyết về công trình văn hóa tín ngưỡng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia này cũng là điều khiến không ít du khách trầm trồ tán thưởng.

Sự tích vị Thánh Mẫu thờ trong Phủ Tây Hồ được người dân tổng Thượng, huyện Phụng Thiên xưa (nay là vùng Yên Phụ, Nghi Tàm, Tây Hồ, Quảng Bá, Xuân La, Vạn Dâu) kể lại rằng: Quỳnh Hoa là con gái Ngọc Hoàng thượng đế ở Đệ nhị Thiên Cung, do đánh rơi chén ngọc dâng rượu chúc thọ đã phải xuống trần gian đầu thai làm Giáng Tiên – con gái thường dân Lê Thái Công ở An Thái – Vân Cát – Vụ Bản – Nam Định vào năm 1557. Lớn lên, có nhan sắc tuyệt trần, lại giỏi thi thơ, song lấy chồng và sinh con – một trai, một gái – thì Giáng Tiên chớp

mắt thăng thiên đình. Nàng giáng trần lần thứ nhất để gặp lại người thân, có hai nữ thần Quế Nương, Thị Nương hậu vệ; lần hai hiển linh để cứu nhân độ thế, trừng phạt kẻ bất lương trêu ghẹo người này, lại gia ơn cho kẻ khác và du ngoạn khắp chốn danh lam, giáng bút đề thơ.

Có truyền thuyết kể rằng chính tại mảnh đất Phủ Tây Hồ ngày nay, Quỳnh Hoa đã tái ngộ xướng họa thơ văn cùng Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (lần thứ nhất đàm đạo tại xứ Lạng) trong vai cô chủ quán tửu lâu Tây Hồ phong nguyệt, ít ngày sau Trạng Bùng quay lại đã thấy biến mất cả người lẫn quán, chỉ còn hồ nước mênh mông. Quỳnh Hoa đã được dân chúng lập phủ thờ, đặt tên là Bà Chúa Liễu Hạnh, được xem là một trong bốn vị tứ bất tử, là tấm gương về sự tự mình tạo lấy hạnh phúc. Bà Chúa Liễu Hạnh theo quan niệm dân gian đã trở thành một mẫu quyền năng vô lượng và phân thân, hóa thân thành các thần linh cai quản muôn mặt của vũ trụ: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ cai quản trên trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản núi rừng, Mẫu Thủy (hay Mẫu Thoải) cai quản trên sông biển, thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành, coi trọng vai trò của người mẹ.

Hồ Trúc Bạch, đường Thanh Niên

Hồ Trúc Bạch là một thắng cảnh của Hà Nội, nằm kề Hồ Tây, cách nhau con đường Thanh Niên rợp mát bóng cây, bốn mùa đều hấp dẫn con người đến thưởng ngoạn, nghỉ ngơi. Xưa kia Trúc Bạch với Hồ Tây với cả hồ Cổ Ngựa (ở vào khoảng phố Hàng Than bây giờ, đã bị lấp thành bằng địa từ khi Pháp mới chiếm Hà Nội) đều nối liền nhau. Đó chính là một đoạn dòng cũ của sông Hồng. Về sau, người ta đắp ngăn thành ba hồ.

Sách Long thành dật sư có ghi rõ rằng: Hồ Tây mặt nước rất rộng, đáy sâu và thường có sóng lớn. Riêng có phần hồ thuộc địa phận làng Trúc Yên là nước nóng, ít sóng, nhiều bùn tốt nên lắm cá tụ về. Năm Vĩnh Tộ thứ 2 đời Lê Thần Tôn (1620), dân làng Yên Phụ và làng Yên Quang (khu vực đầu phố Cửa Bắc đến đền Quán Thánh ngày nay) hợp sức với dân làng Trúc Yên, đắp một con đập từ đầu làng Yên Phụ nối với đầu làng Yên Quang để chắn giữ lấy cá làm nguồn lợi cho cả ba làng. Đập ấy gọi là Cố Ngự Yển, tức đập Cố Ngự, có nghĩa là giữ vững. Để kỷ niệm việc nay, người ta có dựng một bia lớn ở phía đầu làng Yên Quang. Đập Cố Ngự mỗi năm lại được đắp rộng ra, thành một con đê, rồi thành đường đi. Sau này, có lẽ do việc viết chữ Pháp hoặc quốc ngữ không có dấu, người ta đọc là Cổ Ngư thay cho Cố Ngự.

Cũng theo sách Long thành dật sự, thì làng Trúc Yên có nghề làm mành trúc, nên các nhà dân đều trồng trúc thành rừng, để làm nguyên liệu. Đời vua Lê ý Tôn (1735 – 1738), chúa Trịnh Giang lấy một khu đất của làng Trúc Yên cho xây một toà biệt điện làm nơi tĩnh dưỡng, gọi là Trúc Tâm Viện. Chỉ được vài năm, biệt điện này thành một lãnh cung để an trí các cung nữ bị tội. Các cung nữ bị an trí ở đó phải tự làm việc kiếm sống. Họ phần nhiều là người khéo tay, nên dệt lụa khá đẹp, được các nơi rất ưa dùng. Rồi nhân dân gọi thành quen thứ lụa của các cung nữ dệt là “lụa làng Trúc”, tức “Trúc bạch”. Đã có những câu ca:Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng

May áo chàng cùng sóng áo em

Chữ tình gắn với chữ duyên

Xin đừng thay áo mà quên lời thề.

Cũng từ đó, phần Hồ Tây phía làng Trúc Yên cũng được gọi là hồ Trúc Bạch.

Cũng từ thời ấy, triều chính Lê – Trịnh ngày thêm đổ nát. Số cung nữ ở làng Trúc Yên không còn ai bị kiềm thúc nữa. Năm Chiêu Thống thứ hai (1788) vì muốn báo thù, Chiêu Thống cho đốt hết cung điện của chúa Trịnh, Trúc Tâm Viện cũng bị thành tro tàn…

Nhưng vẫn còn làng Trúc Yên với nghề mành, nghề lụa. Đê Cổ Ngư sau thành đường rộng Cổ Ngư. Những năm sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hoà bình lập lại, đường Cổ Ngư đã được thanh niên Hà Nội và nhân dân cùng góp công sức, qua những ngày lao động xã hội chủ nghĩa, kiến tạo thành con đường Thanh Niên. Ngày nay, các làng Yên Phụ, Yên Quang, Trúc yên đều đã thành phố xá đông vui. Hồ Trúc Bạch đã trở thành một địa danh nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng. Người trong Nam ra, ngoài Bắc về thủ đô đều muốn đến Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, đi dạo trên con đường Thanh Niên rợp bóng phượng hồng và bằng lăng tím, thả hồn trải rộng miên man với nước hồ và gió trời. Người xưa đã vớt bùn đất lên, tạo đập Cổ Ngư, thành đường Cổ Ngư xưa và đường Thanh Niên hôm nay… Còn người Hà Nội ngày nay vẫn đang có những việc phải làm cho Trúc Bạch, đó là quy hoạch, giữ gìn cho hồ nước không bị teo hẹp lại và lúc nào cũng thanh sạch, đẹp tươi.

Sông Hồng Hà Nội

Sông Hồng mang đặc tính của từng mùa: khi trong, khi đục. Có người bảo sông Hồng mùa nào cũng đục. Nếu nói như ai đó thì quả là người ấy chưa biết sông Hồng, mới biết qua cái tên của nó. Sông Hồng cuối mùa đông và giêng hai về mùa xuân nước cũng trong. Nhưng chất lượng nước trong sông Hồng Hà Nội không giống bất cứ nước trong của một dòng sông nào.

Khi đỏ chói như pha son về mùa lũ, khi phớt hồng như hoa đào về mùa thu, khi mang màu vàng như hoàng hôn, như màu gạch của lũ sông Đà, sông Lô, sông Chảy trộn vào. Về mùa xuân, nước trong pha chút hồng nhẹ như má người con gái phớt nhẹ qua một chút phấn hồng. Ta phải lấy đôi bàn tay chụm vào nhau vục lấy vốc nước mới thấy cái màu đặc biệt không có ở bất kỳ một dòng sông nào. Sông mang tính dữ dội, hung hãn của mùa lũ, dáng lơ thơ, dìu dặt của mùa khô. Suốt cả một chiều dài của thành phố Hà Nội in bóng xuống dòng sông như một bức tranh hoành tráng vĩ đại.

Cuộc sống đời thường xô bồ, nhốn nháo, ít ai có một đôi lần ngắm dòng sông, ngắm cảnh sông mà cảm ơn ông cha ta đã có một tầm nhìn muôn đời, chọn vùng đất mở ra một kinh thành. Là người Hà Nội, ai đã có lần đứng bên này dòng sông ngắm sang bờ bắc và từ bờ bắc ngắm về Hà Nội, hay thong thả bước chân đi dạo trên mấy chiếc cầu để ngắm dòng sông? Phải chăng cách nghĩ, sự thưởng ngoạn tao nhã không mất tiền mua, đó mới là sự giàu có của tâm hồn người Hà Nội thanh lịch.

Cụ Nguyễn Siêu, một thần thơ của thế kỷ trước, cảm xúc trước cảnh đẹp của Nhị Hà, hạ bút viết: “Tình khách chơi vơi bên bờ bắc. Mảnh trăng lơ lửng phía đông dòng sông”. Hai câu thơ trên, cụ Nguyễn như bảo với chúng ta; Phải từ bờ bắc mới thấy được, ngắm được toàn bộ kinh thành. Phải từ bờ bắc mới thấy được cảnh như hai câu thơ cụ viết tiếp: “áng mây rà thấp, bóng cây xa dòm nghiêng xuống nước. Bầu trời cao rộng lớn, ngồi lầu cao dễ chạm tới tầng xanh”.

Còn bậc thánh thơ Cao Bá Quát, trong một buổi chiều tà đã phóng tầm mắt xem cảnh Nhị Hà, nhìn về Hà Nội: “Bức thành xây trên bụng rồng ngất trời hùng tráng. Dòng sông cuộn theo nước đỏ, thành làn sóng hoa đào….”. Đọc thơ người xưa, đủ biết các bậc tiền danh nhân của đất nước không phải chỉ chú ý đến những cảnh đẹp của nội thành. Những hồ Tây, hồ Gươm, hồ Thiền Quang… Mặc dù người xưa đã có những bài thơ tuyệt bút về những cảnh đẹp những nơi ấy. Các cụ ta đã không quên dòng sông có “làn sóng hoa đào”! Thiên nhiên đã dành cho Hà Nội cả một dòng sông để con người xây nên những “lầu cao dễ chạm tới tầng xanh”…”. Cha ông ta đã nhìn ra cái thế núi, hình sông, nơi “Rồng cuộn, Hổ ngồi (để) truyền lại cho con cháu muôn đời mai sau…”, là chúng ta bây giờ được hưởng.

Quả vậy, nếu biết Hà Nội chỉ để biết cái đẹp trong nội thành, chưa một lần chiêm ngưỡng toàn cảnh sông Nhị với kinh thành, để thấy được tấm lòng và con mắt tinh đời của tổ tiên, phải chăng cũng là có lỗi với người xưa lắm.

Lu-đê-mít, nhà thơ Hy Lạp, cách đây mấy thập kỷ, khi ông đến thăm Việt Nam, lúc trở về nước đã gửi lại tấm lòng mình: “… Tôi quên sao được sông Hồng. Thêu sóng đỏ trên áo dài Hà Nội…”. Phải chăng thi nhân kim cổ đông, tây đã gặp nhau trong cảm xúc trước cảnh đẹp của Hà Nội và đặc biệt với sông Hồng Hà Nội.

Thủa sinh thời nhà thơ Quang Dũng, mặc dù đôi chân anh đã yếu vì cái bệnh thấp khớp quái ác, vẫn có những đêm trăng dắt xe cùng nhóm nhà thơ đi bộ trên cầu Long Biên, về nhà một người bạn thơ bên bờ Bắc để được ngắm Hà Nội soi mình trên dòng sông Hồng.

(VIETNAMNET)

Bài viết Các con phố ở Hà Nội ( http://www.homenh.vn/blog/cac-con-pho-o-ha-noi.html ) được sưu tầm bởi Đá Hộ Mệnh (http://www.homenh.vn). Xin vui lòng giữ nguồn khi tái sử dụng thông tin. Chân thành cảm ơn.

3 thoughts on “Các con phố ở Hà Nội

  1. haha! Nếu k thêm phố đấy vào thì anh troll cho chết!!!!
    Khôn hồn thì thêm vào!!!!!!!!!!!
    :)

  2. làm ăn kiểu j mà có cái phố đẹp nhất Hà Nội-phố Nguyễn Chí Thanh cũng k có hả???? :(
    mình khuyên các bạn k nên tra ở đây!!!
    Chán lém!!!!! Tim mìn đi!( từng trải mà lị) ;)

Leave a Reply